Chọc dò thắt lưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chọc dò thắt lưng, còn được gọi là chọc dò cột sống, là một thủ tục y tế trong đó kim được đưa vào ống sống, phổ biến nhất là để lấy dịch não tủy (CSF) để xét nghiệm chẩn đoán. Lý do chính cho việc chọc dò tủy sống là để giúp chẩn đoán các bệnh của hệ thống thần kinh trung ương, bao gồm não và cột sống. Ví dụ về các tình trạng này bao gồm viêm màng nãoxuất huyết dưới nhện. Nó cũng có thể được sử dụng trong điều trị trong một số điều kiện. Tăng áp lực nội sọ (áp lực trong hộp sọ) là một chống chỉ định, do nguy cơ vật chất trong não bị nén và đẩy về phía cột sống. Đôi khi, chọc dò thắt lưng không thể được thực hiện một cách an toàn (ví dụ do xu hướng chảy máu nghiêm trọng). Nó được coi là một thủ tục an toàn, nhưng đau đầu hậu thủng màng cứng là một tác dụng phụ phổ biến.

Thủ tục thường được thực hiện dưới gây tê tại chỗ bằng kỹ thuật vô trùng. Một kim tiêm dưới da được sử dụng để đưa vào không gian dưới nhện và chất lỏng được thu thập. Chất lỏng có thể được gửi để phân tích sinh hóa, vi sinhtế bào học. Sử dụng siêu âm để đánh dấu vị trí dò có thể làm tăng thành công.[1]

Chọc dò thắt lưng được bác sĩ người Đức Heinrich Quincke giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1891.

Sử dụng trong y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lý do cho việc chọc dò thắt lưng có thể là để chẩn đoán [2][3] hoặc để điều trị bệnh.[2]

Chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Các chỉ định chẩn đoán chính của chọc dò tủy sống là để thu thập dịch não tủy (CSF). Phân tích CSF có thể loại trừ nhiễm trùng,[2][4] viêm,[2] và bệnh neoplastic [2] ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương. Mục đích phổ biến nhất là trong nghi ngờ viêm màng não,[5] vì không có công cụ đáng tin cậy nào khác mà viêm màng não, một tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể điều trị được, có thể được loại trừ. Cũng có thể sử dụng chọc dò thắt lưng để phát hiện xem ai đó có 'Giai đoạn 1' hay 'Giai đoạn 2' của Trypanosoma brucei. Trẻ nhỏ thường yêu cầu chọc dò thắt lưng là một phần của công việc thường xuyên khi bị sốt mà không có nguồn. Điều này là do tỷ lệ viêm màng não cao hơn ở người lớn tuổi. Trẻ sơ sinh cũng không đáng tin cậy cho thấy các triệu chứng kinh điển của kích thích màng não như cứng cổ và đau đầu như cách người lớn hay bị.[5] Ở bất kỳ nhóm tuổi nào, xuất huyết dưới nhện, tràn dịch não, tăng huyết áp nội sọ lành tính và nhiều chẩn đoán khác có thể được hỗ trợ hoặc loại trừ với xét nghiệm này. Nó cũng có thể được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của các tế bào ác tính trong CSF, như trong viêm màng não ung thư hoặc u trung thất. CSF chứa ít hơn 10 tế bào hồng cầu (hồng cầu) / mm³ tạo thành một đầu ra "âm tính" trong bối cảnh làm việc cho xuất huyết dưới nhện, ví dụ. Các đàu ra "dương" có số lượng hồng cầu từ 100 / mm³ trở lên.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gottlieb, M; Holladay, D; Peksa, GD (tháng 1 năm 2019). “Ultrasound-assisted Lumbar Punctures: A Systematic Review and Meta-Analysis.”. Academic Emergency Medicine 26 (1): 85–96. PMID 30129102 Kiểm tra giá trị |pmid= (trợ giúp). doi:10.1111/acem.13558. 
  2. ^ a ă â b c Sempere, AP; Berenguer-Ruiz, L; Lezcano-Rodas, M; Mira-Berenguer, F; Waez, M (2007). “Punción lumbar: indicaciones, contraindicaciones, complicaciones y técnica de realización” [Lumbar puncture: its indications, contraindications, complications and technique]. Revista de Neurologia (bằng tiếng Tây Ban Nha) 45 (7): 433–6. PMID 17918111. doi:10.33588/rn.4507.2007270. 
  3. ^ Gröschel, K; Schnaudigel, S; Pilgram, S; Wasser, K; Kastrup, A (19 tháng 12 năm 2007). “Die diagnostische Lumbalpunktion” [The diagnostic lumbar puncture]. Deutsche Medizinische Wochenschrift (bằng tiếng Đức) 133 (1/02): 39–41. PMID 18095209. doi:10.1055/s-2008-1017470. 
  4. ^ Matata, C; Michael, B; Garner, V; Solomon, T (24–30 October 2012). “Lumbar puncture: diagnosing acute central nervous system infections”. Nursing Standard (Royal College of Nursing (Great Britain): 1987) 27 (8): 49–56; quiz 58. PMID 23189602. doi:10.7748/ns2012.10.27.8.49.c9364. 
  5. ^ a ă Visintin, C.; Mugglestone, M. A.; Fields, E. J.; Jacklin, P.; Murphy, M. S.; Pollard, A. J.; Guideline Development Group; National Institute for Health and Clinical Excellence (28 tháng 6 năm 2010). “Management of bacterial meningitis and meningococcal septicaemia in children and young people: summary of NICE guidance”. BMJ (Clinical Research Ed.) 340: c3209. PMID 20584794. doi:10.1136/bmj.c3209. 
  6. ^ Mann, David (2002). “The role of lumbar puncture in the diagnosis of subarachnoid hemorrhage when computed tomography is unavailable”. Journal of the Canadian Association of Emergency Physicians 4 (2): 102–105.