Dương Công Sửu
Dương Công Sửu | |
|---|---|
Chức vụ | |
Phó Tư lệnh Quân khu 1 | |
| Nhiệm kỳ | 2000 – 2010 |
| Tư lệnh | |
Thông tin cá nhân | |
| Danh hiệu | Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1973) |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 1950 (75–76 tuổi) Bắc Sơn, Lạng Sơn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa |
| Nơi ở | Lạng Sơn[1] |
| Dân tộc | Tày |
| Đảng chính trị | |
Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Năm tại ngũ | 1967 – 2011 |
| Cấp bậc | |
| Tham chiến | Chiến tranh Việt Nam Chiến tranh biên giới Việt–Trung |
Dương Công Sửu (sinh năm 1950) là một sĩ quan cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng, từng đảm nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 1,[2] Chỉ huy trưởng Bộ Chủ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn.[3] Ông được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời
[sửa | sửa mã nguồn]Dương Công Sửu sinh năm 1950 trong một gia đình người dân tộc Tày tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.[4] Ông nhập ngũ vào tháng 7 năm 1967, đến cuối năm 1967, ông vào miền Nam và tham gia chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên. Tháng 9 năm 1968, Dương Công Sửu trở thành Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 28 Đặc công, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4; tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Từ năm 1968 đến năm 1973, Dương Công Sửu đã tham gia chiến đấu và chỉ huy nhiều trận đánh lớn nhỏ ở khắp chiến trường Nam Bộ[5] và Campuchia như trận tập kích nam Suối Ngô; trận cầu sắt Bà Chiêm; trận phục kích chốt chặn Tây Nam Suông; trận phục kích đánh xe cơ giới trên đường 13 nam Chơn Thành; trận tập kích cụm xe phía tây Cây Cầy, Bình Long và trận Lai Khê.[6][7]
Sau chiến thắng từ trận phục kích chốt chặn Tây Nam Suông vào tháng 3 năm 1971,[8] tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn 28 được giao nhiệm vụ tổ chức bộ phận đánh nhỏ lẻ trên đường 13 nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của quân đối phương. Dương Công Sửu được phân công tổ chức 15 đồng đội và nghiên cứu phương thức hoạt động của quân đối phương, ông đã lợi dụng vị trí chốt cũ để bố trí trận địa phục kích. Đến 7 giờ tối, chiếc xe đầu tiên của quân đối phương lọt vào trận địa. Một thời gian sau, ông và đồng đội đã phá hủy 3 xe, đánh bại được 40 quân nhân, bắt 6 tù binh và thu được 4 khẩu súng.[9] Nhờ chiến công này, ngày 20 tháng 12 năm 1973, Dương Công Sửu được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.[10] Đến tháng 4 năm 1974, ông tham gia đoàn đại biểu các đơn vị và cá nhân Anh hùng, Chiến sĩ thi đua các lượng lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam ra miền Bắc và báo cáo thành tích với các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ. Đoàn đã hội kiến với Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tôn Đức Thắng.[11] Đến ngày 30 tháng 1 năm 2011, Tiểu đoàn 28 Đặc công Sư đoàn 7, Quân đoàn 4 được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.[12]
Sau ngày Việt Nam tái lập thống nhất, Dương Công Sửu được cử đi đào tạo tại các trường sĩ quan quân sự và Học viện quân sự rồi về Bộ Tư lệnh Đặc công làm trung đoàn trưởng của Trung đoàn 198. Trung đoàn này sau đó được điều lên biên giới phía Bắc và bàn giao cho Quân khu 1 để tham gia trực tiếp Chiến tranh biên giới Việt–Trung. Năm 1986, ông về Lạng Sơn công tác khi trung đoàn đặc công này chuyển về phía Nam.[11] Năm 1990, ông trở thành Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn và từng chỉ đạo đơn vị này dò gỡ mìn ở khu vực biên giới, mở đường lên cửa khẩu Hữu Nghị để đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc dự Đại hội Thể thao châu Á 1990.[13] Từ năm 2000 đến năm 2010, ông được điều động giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 1.[14][15] Năm 2008, Dương Công Sửu được thăng quân hàm Trung tướng.[16] Ông nghỉ hưu vào năm 2011.
Khen thưởng
[sửa | sửa mã nguồn]Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1973).
- 15 danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
- Chiến sĩ quyết thắng.[17]
- Dũng sĩ diệt xe cơ giới.[17]
Huân chương
[sửa | sửa mã nguồn]- Huân chương Quân công hạng Ba.
- Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Huân chương Kháng chiến hạng Ba.
- 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.
- 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.
- Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Đình Quang; Trí Dũng (ngày 14 tháng 1 năm 2025). "Lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà, chúc tết tại thành phố Lạng Sơn". Báo Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Trí Dũng (ngày 15 tháng 10 năm 2021). "Thành phố Lạng Sơn: Vững bước trên đường phát triển". Báo Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Thanh Huyền (ngày 3 tháng 2 năm 2019). "Kể chuyện tết xưa – tết nay". Báo Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Anh hùng Dương Công Sửu". Bảo tàng Quân khu 4. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Hồ Mai (ngày 28 tháng 5 năm 2020). "Anh hùng Dương Công Sửu". Báo Lâm Đồng. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ N.D.C (ngày 29 tháng 4 năm 2022). "Chuyện của một người Anh hùng". Báo Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Thu Nhuần (ngày 23 tháng 4 năm 2015). "Hồi ức về Cuộc tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 qua lời kể của nhân chứng lịch sử". Bảo tàng lịch sử Quốc gia. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Trang Việt (ngày 25 tháng 4 năm 2025). "Ký ức thời binh lửa của một vị tướng đặc công". Báo Công lý. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Dương Đình Lập (ngày 28 tháng 4 năm 2021). "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Dương Công Sửu - Vị tướng của trận mạc". Báo Thái Nguyên. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Dương Đình Lập (ngày 21 tháng 10 năm 2024). "Mang truyền thống Bắc Sơn đi đánh giặc". Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng – Báo Quân đội nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ a b Quốc Phong (ngày 22 tháng 12 năm 2017). "'Ra ngõ gặp anh hùng', chuyện có đâu xa". Báo Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Duy Chí (ngày 6 tháng 8 năm 2011). "Tiểu đoàn 28 Đặc công, Sư đoàn 7 (1967-1974): Xứng danh Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Báo Bình Dương. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Khương Doãn (ngày 1 tháng 5 năm 2021). "Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Dương Công Sửu - Vị tướng của trận mạc". Báo Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Sầm Thạch (ngày 17 tháng 4 năm 2010). "Ký ức qua trận đánh". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ Vũ Như Phong (ngày 5 tháng 11 năm 2025). ""Thế" vững, "lực" mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc". Báo Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Thăng quân hàm cấp tướng và bổ nhiệm chức vụ cho 49 sỹ quan cao cấp Quân đội". Văn phòng Chính phủ. ngày 17 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ a b "Gặp gỡ nhân chứng lịch sử của Chiến thắng mùa Xuân năm 1975". Báo Điện tử Chính phủ. ngày 28 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Vi Hà (ngày 19 tháng 12 năm 2014). "Tỉnh Đoàn Lạng Sơn Giao lưu với Trung tướng Dương Công Sửu, anh hùng LLVT, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu I tại Diễn đàn "Thắp lửa anh hùng trên quê hương Xứ Lạng"". Tỉnh đoàn Lạng Sơn. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- Sinh năm 1950
- Nhân vật còn sống
- Huân chương Quân công
- Huân chương Chiến công
- Huân chương Kháng chiến
- Huân chương Chiến công giải phóng
- Huân chương Chiến sĩ giải phóng
- Người Lạng Sơn
- Người Tày
- Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam
- Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam thụ phong thập niên 2000
- Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam thụ phong năm 2008
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Phó Tư lệnh Quân khu 1, Quân đội nhân dân Việt Nam