Eiger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Eiger
North face.jpg
Mặt bắc Eiger
Độ cao 3.970 m (13.020 ft)
Phần lồi 356 m (1.168 ft)[1]
Cách ly 2,0 km (1,2 mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][2]
Độ cao đỉnh mẹ Mönch
Danh sách Mặt lớn phía Nam phía Bắc của dãy Alps
Núi Alpine trên 3000 m
Phiên dịch Ogre
Vị trí
Eiger trên bản đồ Thụy Sĩ
Eiger
Eiger
Vị trí ở Thụy Sĩ
Vị trí Bang Bern, Thụy Sĩ
Dãy núi Bernese Alps
Tọa độ 46°34′39″B 8°0′19″Đ / 46,5775°B 8,00528°Đ / 46.57750; 8.00528Tọa độ: 46°34′39″B 8°0′19″Đ / 46,5775°B 8,00528°Đ / 46.57750; 8.00528
Bản đồ địa hình Swisstopo 1229 Grindelwald
Địa chất
Kiểu Đá vôi
Leo núi
Chinh phục lần đầu ngày 11 tháng 8 năm 1858
Hành trình dễ nhất basic rock/snow/ice climb (AD)

Eiger là một ngọn núi 3.970 mét (13.020 ft) của dãy núi Alps Berne, nhìn ra Grindelwald và Lauterbrunnen ở vùng Bernese Oberland của Thụy Sĩ, ngay phía bắc lưu vực đầu nguồn và biên giới với Valais. Đây là đỉnh núi cực đỉnh của đỉnh núi nằm trên Mönch tới Jungfrau ở độ cao 4.158 m (13.642 ft), tạo thành một trong những điểm tham quan nổi bật nhất của dãy núi Alps của Thụy Sĩ. Trong khi phía bắc của dãy núi tăng hơn 3.000 m (10.000 ft) so với hai thung lũng Grindelwald và Lauterbrunnen, phía nam phải đối mặt với các sông băng lớn trong khu vực Jungfrau-Aletsch, vùng băng giá nhất trong dãy núi Alps. Đặc điểm đáng chú ý nhất của Eiger là mặt bắc của đá và đá có độ cao 1.800 m (5.900 ft), có tên là Eigerwand hoặc Nordwand, là mặt bắc lớn nhất ở dãy Alps.[3] Mặt to lớn này nằm trên khu nghỉ mát của Kleine Scheidegg tại căn cứ của nó, trên đường đi ngang nối hai thung lũng.

Người đầu tiên leo lên đỉnh Eiger là các hướng dẫn viên người Thụy Sĩ Christian Almer và Peter Bohren (de) và người Ireland Charles Barrington, người đã leo lên sườn phía tây vào ngày 11 tháng 8 năm 1858. Khuôn mặt phía bắc, được xem là một trong những bước tiến đầy thách thức và nguy hiểm nhất, Leo thang vào năm 1938 bởi một cuộc thám hiểm Áo-Đức [4]. Eiger đã được công bố rộng rãi cho nhiều bi kịch liên quan đến chuyến thám hiểm leo núi. Kể từ năm 1935, ít nhất 64 người leo núi đã chết khi cố gắng đối mặt với phía bắc, kiếm được biệt danh là Mordwand của Đức, nghĩa đen là "bức tường giết người (ous)" - một chữ viết đúng tiêu đề của Nordwand (Bắc Wall)[5].

Mặc dù đỉnh núi Eiger chỉ có thể đạt được bởi các nhà leo núi có kinh nghiệm, một đường hầm đường sắt chạy bên trong núi, và hai trạm nội bộ cho phép dễ dàng truy cập vào các khung nhìn được chạm khắc vào mặt đá. Chúng là một phần của tuyến đường sắt Jungfrau, chạy từ Kleine Scheidegg đến Jungfraujoch, giữa Mönch và Jungfrau, tại ga đường sắt cao nhất ở châu Âu. Hai trạm trong Eiger là Eigerwand (phía sau mặt bắc) và Eismeer (phía sau mặt phía Nam), khoảng 3.000 mét.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lấy từ bản đồ địa hình Swisstopo, col chính Nördliches Eigerjoch (3.614 m).
  2. ^ Lấy từ Google Earth. Điểm gần nhất có độ cao cao hơn là phía đông bắc của Mönch.
  3. ^ Veneblas, Stephen (2014). First Ascent. London: Hachette UK. ISBN 1554074037. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  4. ^ Reinhold Messner, The Big Walls: From the North Face of the Eiger to the South Face of Dhaulagiri, p. 41
  5. ^ Venables, Stephen (ngày 27 tháng 8 năm 2006). “The Eiger is my kind of therapy”. London: The Sunday Times. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anker, Daniel (2000). Eiger: The Vertical Arena. Seattle: The Mountaineers. 
  • Harrer, Heinrich (1959). The White Spider: The History of the Eiger's North Face (bằng tiếng German) (ấn bản 3). London. 
  • Pagel, David (1999). “My Dinner with Anderl”. Ascent (Golden, Colorado: AAC Press): 13–26. 
  • Simpson, Joe (2002). The Beckoning Silence. London: Jonathan Cape Publishers. ISBN 0-09-942243-3. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]