Hội chứng sợ độ cao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hội chứng sợ độ cao, tên khoa học là Acrophobia, là một nỗi sợ hãi hoặc ám ảnh cực đoan về độ cao, đặc biệt đối với những người có chiều cao bình thường. Nó là một loại ám ảnh về không gian và sự khó chịu khi chuyển động. Hầu hết mọi người đều có một mức độ sợ hãi tự nhiên khi tiếp xúc với độ cao, được gọi là cảm giác sợ rơi. Những người bị chứng sợ độ cao có thể trải qua một cuộc hoảng sợ ở những nơi cao và trở nên quá kích động để tìm cách giúp bản thân được an toàn. Khoảng 2-5% dân số nói chung mắc hội chứng sợ độ cao, số nữ giới mắc phải hội chứng này gấp đôi nam giới.[1] Thuật ngữ này xuất phát từ tiếng Hy Lạp: ἄκρον, ákron, có nghĩa là "đỉnh, đỉnh, cạnh" và φόβος, vicebos, "sợ hãi".

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, hội chứng sợ độ cao được xem là một ám ảnh về tinh thần như các hội chứng khác. Các nghiên cứu gần đây đã nghi ngờ về giải thích này;[2] một nỗi sợ hãi  vì bị rơi xuống, cùng với một nỗi sợ hãi của tiếng ồn lớn, là một trong những nguyên nhân được cho là bẩm sinh hoặc "không liên quan" đến nỗi sợ hãi. Các nhà nghiên cứu đã lập luận rằng một nỗi sợ hãi về chiều cao là một bản năng được tìm thấy trong nhiều động vật có vú, bao gồm cả động vật sống ở nước và con người. Các thí nghiệm sử dụng vách đá trực quan đã cho thấy trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi, cũng như các loài động vật khác ở các độ tuổi khác nhau, đã miễn cưỡng mạo hiểm ở trên một sàn nhà bằng kính mà cách mặt đất khoảng vài mét.

Một yếu tố góp phần gây nên hội chứng này là một rối loạn chức năng trong việc duy trì sự cân bằng. Trong trường hợp này, sự lo lắng vừa được thành lập vừa là thứ yếu. Hệ thống cân bằng của con người tích hợp các tín hiệu trực quan, tiền đình và cận thị để tính toán vị trí và chuyển động.[3][4] Khi chiều cao tăng, tín hiệu thị giác rút gọn và sự cân bằng trở nên kém hơn ngay cả ở những người bình thường.[5] Tuy nhiên, hầu hết mọi người phản ứng bằng cách chuyển sang phụ thuộc nhiều hơn vào các chi nhánh độc lập của tiền đình và sự cảm nhận của cơ thể trong hệ thống cân bằng. Còn những người mắc hội chứng sợ độ cao sẽ tiếp tục dựa trên tín hiệu thị giác vì chức năng tiền đình không đầy đủ.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có một số nghiên cứu về sử dụng liệu pháp thực tế ảo cho hội chứng sợ độ cao.[6][7] Nhiều loại thuốc khác nhau được sử dụng trong điều trị các ám ảnh sợ độ cao, bao gồm thuốc chống lo âu như benzodiazepines,  thuốc chống trầm cảm,...

Một số phương pháp điều trị chứng nhạy cảm cho những người mắc  hội chứng sợ độ cao đã tạo ra những cải thiện ngắn hạn trong các triệu chứng.[8] Tuy nhiên thành công điều trị lâu dài khó đoán trước được.

Về mặt xã hội và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bộ phim Vertigo của Alfred Hitchcock, John "Scottie" Ferguson, do James Stewart thủ vai, đã phải từ chức khỏi lực lượng cảnh sát sau một sự việc khiến anh mắc phải hội chứng sợ độ cao và chóng mặt. Từ "chóng mặt" chỉ được đề cập một lần, trong khi "hội chứng sợ độ cao" được đề cập nhiều lần. Ferguson cũng đã từng ngất xỉu trong khi leo lên một chiếc thang. Có rất nhiều tài liệu tham khảo trong suốt bộ phim về chứng lo sợ độ cao và bị rơi xuống.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Juan, M. C. và đồng nghiệp (2005). “An Augmented Reality system for the treatment of acrophobia” (PDF). Presence 15 (4): 315–318. doi:10.1162/pres.15.4.393. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  2. ^ Menzies, RG; Clarke, JC. (1995). “The etiology of acrophobia and its relationship to severity and individual response patterns”. Behaviour Research and Therapy 33 (31): 499–501. PMID 7677717. doi:10.1016/0005-7967(95)00023-Q. 7677717. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  3. ^ Furman, Joseph M (tháng 5 năm 2005). “Acrophobia and pathological height vertigo: indications for vestibular physical therapy?”. Physical Therapy. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2007. [liên kết hỏng]
  4. ^ Jacob, Rolf G; Woody, Shelia R; Clark, Duncan B. và đồng nghiệp (tháng 12 năm 1993). “Discomfort with space and motion: A possible marker of vestibular dysfunction assessed by the situational characteristics questionnaire”. Journal of Psychopathology and Behavioral Assessment 15 (4): 299–324. ISSN 0882-2689. doi:10.1007/BF00965035. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2007. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ Brandt, T; F Arnold; W Bles; T S Kapteyn (1980). “The mechanism of physiological height vertigo. I. Theoretical approach and psychophysics”. Acta Otolaryngol 89 (5–6): 513–523. PMID 6969515. doi:10.3109/00016488009127169. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  6. ^ Coelho, Carlos; Alison Waters; Trevor Hine; Guy Wallis (2009). “The use of virtual reality in acrophobia research and treatment”. Journal of Anxiety disorders 23 (5): 563–574. 
  7. ^ Emmelkamp, Paul; Mary Bruynzeel; Leonie Drost; Charles A. P. G van der Mast (ngày 1 tháng 6 năm 2001). “Virtual Reality Treatment in Acrophobia: A Comparison with Exposure in Vivo”. CyberPsychology & Behavior 4 (3): 335–339. doi:10.1089/109493101300210222. |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  8. ^ Arroll, Bruce; Wallace, Henry B.; Mount, Vicki; Humm, Stephen P.; Kingsford, Douglas W. (ngày 3 tháng 4 năm 2017). “A systematic review and meta-analysis of treatments for acrophobia”. The Medical Journal of Australia 206 (6): 263–267. ISSN 1326-5377. PMID 28359010.