Bước tới nội dung

Hilary Duff

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hilary Duff
Hilary Duff vào năm 2019
SinhHilary Erhard Duff
28 tháng 9, 1987 (38 tuổi)
Houston, Texas, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • ca sĩ
  • tác giả
  • doanh nhân
Năm hoạt động1993–hiện tại
Phối ngẫu
Con cái4
Người thânHaylie Duff (chị)
Giải thưởngDanh sách đầy đủ
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụGiọng hát
Hãng đĩa

Hilary Erhard Duff (sinh ngày 28 tháng 9 năm 1987) là nữ diễn viên, ca sĩ, tác giả và doanh nhân người Mỹ. Duff bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ khi còn nhỏ, và nhanh chóng được coi là ngôi sao thần tượng với vai chính trong loạt phim hài Lizzie McGuire (2001–2004) của Disney Channel và trong bộ phim dựa theo loạt phim The Lizzie McGuire Movie (2003). Cô cũng xuất hiện trong nhiều bộ phim đại chúng như Cadet Kelly (2002), Agent Cody Banks (2003), Cheaper by the Dozen (2003), A Cinderella Story (2004) và Cheaper by the Dozen 2 (2005). Sau đó, cô bắt đầu tham gia vào những tác phẩm phim độc lập với nhiều vai diễn trưởng thành hơn, bao gồm War, Inc. (2008), According to Greta (2009), Bloodworth (2011) và The Haunting of Sharon Tate (2019). Duff thủ vai Kelsey Peters trong loạt phim gốc dài tập nhất của TV LandYounger (2015–2021) và giữ vai trò nhà sản xuất kiêm đóng vai Sophie Tompkins trong phim hài How I Met Your Father (2022–2023) của Hulu.

Album phòng thu đầu tay của cô Santa Claus Lane (2002) với chủ đề Giáng sinh, được phát hành thông qua Buena Vista Records. Sau đó, Duff ký hợp đồng với Hollywood Records và đạt được thành công lớn với album thứ hai Metamorphosis (2003), đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 và được chứng nhận bốn đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA). Cô tiếp tục gặt hái nhiều thành công đáng kể về mặt thương mại với những album tiếp theo như Hilary Duff (2004) và Dignity (2007), cũng như album tuyển tập năm 2005 Most Wanted. Sau một khoảng thời gian gác lại sự nghiệp âm nhạc, Duff ký hợp đồng với RCA Records để ra mắt album thứ năm của cô Breathe In. Breathe Out. (2015). Duff được ca ngợi là nguồn cảm hứng cho nhiều thần tượng trẻ của Disney Channel về sau như Miley Cyrus, Demi LovatoSelena Gomez, và đã bán được khoảng 15 triệu bản trên toàn cầu.[1] Billboard xếp cô ở vị trí thứ 73 trong danh sách "100 Nghệ sĩ Nữ Hàng đầu của Thế kỷ 21".

Ngoài âm nhạc và diễn xuất, cô còn đồng sáng tác một loạt ba tiểu thuyết, bắt đầu với Elixir (2010), đứng đầu danh sách Bán chạy nhất của The New York Times, và được tiếp nối bởi Devoted (2011) and True (2013). Thành công của Duff trong ngành công nghiệp giải trí còn tạo điều kiện để cô sáng lập những thương hiệu thời trang của riêng mình như Stuff by Hilary Duff, Femme for DKNY cũng như bộ sưu tập "Muse x Hilary Duff", một nỗ lực hợp tác với GlassesUSA đã thúc đẩy doanh số bán hàng cho dòng sản phẩm cao cấp của hãng. Cô cũng đầu tư vào một số doanh nghiệp từ mỹ phẩm đến sản phẩm dành cho trẻ em.

Tuổi thơ

[sửa | sửa mã nguồn]

Hilary Duff sinh ra ở Houston, Texas là con gái thứ hai của Bob Erhard Duff - chủ một hệ thống bán đồ gia dụng và Susan Colleen Duff - nội trợ. Hilary và chị gái Haylie Duff cùng học diễn kịch. Họ giành được các giải thương địa phương khác nhau. Ở tuổi 8 và 6, chi em nhà Duff tham gia vở ballet The Nutcracker Suite với Columbus Ballet MetSan Antonio. Chị em họ ngày càng hứng thú với ý tưởng diễn xuất chuyên nghiệp và cuối cùng chị em Duff cùng mẹ đã đi đến California. Ông Bob thì ở lại Houston để chăm lo công việc kinh doanh.

Diễn xuất

[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tựa phim Vai diễn Chú thích
1998 Casper Meets Wendy Wendy
Playing by Heart Vai phụ Không được ghi nhận
2001 Human Nature Young Lila Jute
2003 Agent Cody Banks Natalie Connors
The Lizzie McGuire Movie Lizzie McGuire / Isabella Parigi
Cheaper by the Dozen Lorraine Baker
2004 A Cinderella Story Samantha "Sam" Montgomery
Raise Your Voice Terri Fletcher
In Search of Santa Công chúa Crystal Lồng tiếng
2005 The Perfect Man Holly Hamilton
Cheaper by the Dozen 2 Lorraine Baker
2006 Material Girls Tanzie Marchetta Cũng là nhà sản xuất
2008 War, Inc. Yonica Babyyeah
2009 Stay Cool Shasta O'Neil
What Goes Up Lucy Diamond
According to Greta Greta Cũng là điều hành sản xuất
2011 Bloodworth Raven Halfacre
2012 She Wants Me Kim Powers
Foodfight! Sunshine Goodness Lồng tiếng
Wings Windy
2014 Wings: Sky Force Heroes
2016 Flock of Dudes Amanda L. Benson
2019 The Haunting of Sharon Tate Sharon Tate Cũng là điều hành sản xuất

Truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tựa phim Vai diễn Chú thích
1997 True Women Vai phụ Phim truyền hình ngắn tập; Không được ghi nhận[2]
1999 The Soul Collector Ellie Phim điện ảnh truyền hình
2000 Chicago Hope Jessie Seldon[2] Tập: "Cold Hearts"
2001–2004 Lizzie McGuire Elizabeth "Lizzie" McGuire Vai chính
2001–2005 Express Yourself Chính mình 9 tập
2002 Cadet Kelly Kelly Collins Phim điện ảnh truyền hình
2003–2005 George Lopez Stephanie / Kenzie[2] 2 tập
2003 American Dreams The Shangri-Las Member Tập: "Change a Comin"[2]
2004 Frasier Britney Lồng tiếng; Tập: "Frasier-Lite"[2]
2005 Joan of Arcadia Dylan Samuels Tập: "The Rise & Fall of Joan Girardi"
Dear Santa Chính mình Phim điện ảnh truyền hình
2006 Rebelde Tập: "#3.100"
2007 The Andy Milonakis Show Tập: "Andy Moves to L.A."
Hilary Duff: This Is Now 2 tập
2009 Ghost Whisperer Morgan Jeffries Tập: "Thrilled to Death"
Law & Order: Special Victims Unit Ashlee Walker Tập: "Selfish"
Gossip Girl Olivia Burke Vai diễn định kỳ (mùa 3); 6 tập
2010 Beauty & the Briefcase Lane Daniels Phim điện ảnh truyền hình; cũng là nhà sản xuất
Community Meghan Tập: "Aerodynamics of Gender"
2012 Project Runway Chính mình Tập: "It's Fashion Baby"
2013 Raising Hope Rachel Tập: "The Old Girl"
Two and a Half Men Stacey Tập: "Cows, Prepare to Be Tipped"
Dora the Explorer Jessica the Ice Witch Lồng tiếng; Tập: "Dora's Ice Skating Spectacular"
2014 The Real Girl's Kitchen Chính mình 3 tập
2015–2021 Younger Kelsey Peters Vai chính
2016–2017 The Talk Chính mình 3 tập
2018 Who Do You Think You Are? Tập ngày "June 4, 2018"[3]
2022 The Bachelor Mùa 26; Tập: "Week 2"
My Best Friend's Kitchen with Gaby Dalkin Tập: "Traditional Thanksgiving"[4]
2022–2023 How I Met Your Father[5] Sophie Tompkins Vai chính; cũng là nhà sản xuất

Phim chiếu mạng

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tựa phim Vai diễn Chú thích
2009 The Chase Nhiều 6 tập; để quảng bá cho dòng quần áo của cô Femme cho DKNY[6]
2016 What Last Minute Christmas Shopping Is Really Like (ft. Hilary Duff) Chính mình Tiểu phẩm với YouTuber người Canada Lilly Singh[7]
2018 Staying Fresh with Hilary Duff 4 tập; được thực hiện với sự hợp tác của WalmartTastemade để giáo dục người xem về các mẹo mua sắm tạp hóa[8]
2020 Lady Parts Tập: "How to Survive Puberty"[9]

Danh sách đĩa nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn

[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm đã viết

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Elixir Trilogy
    • Elixir (2010) (Sách 1)
    • Devoted (2011) (Sách 2)
    • True (2013) (Sách 3)
  • Các tác phẩm đã xuất bản khác
    • My Little Brave Girl (2021)[10]
    • My Little Sweet Boy (2023)[11]

Thành tựu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Trakin, Roy (ngày 23 tháng 7 năm 2014). "Hilary Duff Signs to RCA Records". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2022.
  2. ^ a b c d e Rettenmund, Matthew (tháng 7 năm 2005). Hilary Duff: All Access. Berkley Trade. ISBN 0-425-20519-3.
  3. ^ "Hilary Duff could have been a Scottish princess in a past century". Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018.
  4. ^ "My Best Friend's Kitchen with Gaby Dalkin - Traditional Thanksgiving with Hilary Duff".
  5. ^ Goldsmith, Annie (ngày 22 tháng 4 năm 2021). "Hilary Duff Will Star in a How I Met Your Mother Spinoff". Town & Country. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  6. ^ "YouTube". Youtube.com. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
  7. ^ "YouTube". Youtube.com. ngày 23 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  8. ^ "YouTube". Youtube.com. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
  9. ^ "'Lady Parts' with Sarah Hyland: How to Survive Puberty, with Hilary Duff & Ashley Benson". ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2024 – qua YouTube.
  10. ^ "My Little Brave Girl". Penguin Random House Canada. Truy cập 12 tháng 1, 2021.
  11. ^ "My Little Sweet Boy". Penguin Random House Canada. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2023.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]