Hilary Duff
Hilary Duff | |
|---|---|
Hilary Duff vào năm 2019 | |
| Sinh | Hilary Erhard Duff 28 tháng 9, 1987 Houston, Texas, Hoa Kỳ |
| Nghề nghiệp |
|
| Năm hoạt động | 1993–hiện tại |
| Phối ngẫu |
|
| Con cái | 4 |
| Người thân | Haylie Duff (chị) |
| Giải thưởng | Danh sách đầy đủ |
| Sự nghiệp âm nhạc | |
| Thể loại | |
| Nhạc cụ | Giọng hát |
| Hãng đĩa | |
Hilary Erhard Duff (sinh ngày 28 tháng 9 năm 1987) là nữ diễn viên, ca sĩ, tác giả và doanh nhân người Mỹ. Duff bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ khi còn nhỏ, và nhanh chóng được coi là ngôi sao thần tượng với vai chính trong loạt phim hài Lizzie McGuire (2001–2004) của Disney Channel và trong bộ phim dựa theo loạt phim The Lizzie McGuire Movie (2003). Cô cũng xuất hiện trong nhiều bộ phim đại chúng như Cadet Kelly (2002), Agent Cody Banks (2003), Cheaper by the Dozen (2003), A Cinderella Story (2004) và Cheaper by the Dozen 2 (2005). Sau đó, cô bắt đầu tham gia vào những tác phẩm phim độc lập với nhiều vai diễn trưởng thành hơn, bao gồm War, Inc. (2008), According to Greta (2009), Bloodworth (2011) và The Haunting of Sharon Tate (2019). Duff thủ vai Kelsey Peters trong loạt phim gốc dài tập nhất của TV Land là Younger (2015–2021) và giữ vai trò nhà sản xuất kiêm đóng vai Sophie Tompkins trong phim hài How I Met Your Father (2022–2023) của Hulu.
Album phòng thu đầu tay của cô Santa Claus Lane (2002) với chủ đề Giáng sinh, được phát hành thông qua Buena Vista Records. Sau đó, Duff ký hợp đồng với Hollywood Records và đạt được thành công lớn với album thứ hai Metamorphosis (2003), đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 và được chứng nhận bốn đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA). Cô tiếp tục gặt hái nhiều thành công đáng kể về mặt thương mại với những album tiếp theo như Hilary Duff (2004) và Dignity (2007), cũng như album tuyển tập năm 2005 Most Wanted. Sau một khoảng thời gian gác lại sự nghiệp âm nhạc, Duff ký hợp đồng với RCA Records để ra mắt album thứ năm của cô Breathe In. Breathe Out. (2015). Duff được ca ngợi là nguồn cảm hứng cho nhiều thần tượng trẻ của Disney Channel về sau như Miley Cyrus, Demi Lovato và Selena Gomez, và đã bán được khoảng 15 triệu bản trên toàn cầu.[1] Billboard xếp cô ở vị trí thứ 73 trong danh sách "100 Nghệ sĩ Nữ Hàng đầu của Thế kỷ 21".
Ngoài âm nhạc và diễn xuất, cô còn đồng sáng tác một loạt ba tiểu thuyết, bắt đầu với Elixir (2010), đứng đầu danh sách Bán chạy nhất của The New York Times, và được tiếp nối bởi Devoted (2011) and True (2013). Thành công của Duff trong ngành công nghiệp giải trí còn tạo điều kiện để cô sáng lập những thương hiệu thời trang của riêng mình như Stuff by Hilary Duff, Femme for DKNY cũng như bộ sưu tập "Muse x Hilary Duff", một nỗ lực hợp tác với GlassesUSA đã thúc đẩy doanh số bán hàng cho dòng sản phẩm cao cấp của hãng. Cô cũng đầu tư vào một số doanh nghiệp từ mỹ phẩm đến sản phẩm dành cho trẻ em.
Tuổi thơ
[sửa | sửa mã nguồn]Hilary Duff sinh ra ở Houston, Texas là con gái thứ hai của Bob Erhard Duff - chủ một hệ thống bán đồ gia dụng và Susan Colleen Duff - nội trợ. Hilary và chị gái Haylie Duff cùng học diễn kịch. Họ giành được các giải thương địa phương khác nhau. Ở tuổi 8 và 6, chi em nhà Duff tham gia vở ballet The Nutcracker Suite với Columbus Ballet Met ở San Antonio. Chị em họ ngày càng hứng thú với ý tưởng diễn xuất chuyên nghiệp và cuối cùng chị em Duff cùng mẹ đã đi đến California. Ông Bob thì ở lại Houston để chăm lo công việc kinh doanh.
Diễn xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Điện ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa phim | Vai diễn | Chú thích |
|---|---|---|---|
| 1998 | Casper Meets Wendy | Wendy | |
| Playing by Heart | Vai phụ | Không được ghi nhận | |
| 2001 | Human Nature | Young Lila Jute | |
| 2003 | Agent Cody Banks | Natalie Connors | |
| The Lizzie McGuire Movie | Lizzie McGuire / Isabella Parigi | ||
| Cheaper by the Dozen | Lorraine Baker | ||
| 2004 | A Cinderella Story | Samantha "Sam" Montgomery | |
| Raise Your Voice | Terri Fletcher | ||
| In Search of Santa | Công chúa Crystal | Lồng tiếng | |
| 2005 | The Perfect Man | Holly Hamilton | |
| Cheaper by the Dozen 2 | Lorraine Baker | ||
| 2006 | Material Girls | Tanzie Marchetta | Cũng là nhà sản xuất |
| 2008 | War, Inc. | Yonica Babyyeah | |
| 2009 | Stay Cool | Shasta O'Neil | |
| What Goes Up | Lucy Diamond | ||
| According to Greta | Greta | Cũng là điều hành sản xuất | |
| 2011 | Bloodworth | Raven Halfacre | |
| 2012 | She Wants Me | Kim Powers | |
| Foodfight! | Sunshine Goodness | Lồng tiếng | |
| Wings | Windy | ||
| 2014 | Wings: Sky Force Heroes | ||
| 2016 | Flock of Dudes | Amanda L. Benson | |
| 2019 | The Haunting of Sharon Tate | Sharon Tate | Cũng là điều hành sản xuất |
Truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa phim | Vai diễn | Chú thích |
|---|---|---|---|
| 1997 | True Women | Vai phụ | Phim truyền hình ngắn tập; Không được ghi nhận[2] |
| 1999 | The Soul Collector | Ellie | Phim điện ảnh truyền hình |
| 2000 | Chicago Hope | Jessie Seldon[2] | Tập: "Cold Hearts" |
| 2001–2004 | Lizzie McGuire | Elizabeth "Lizzie" McGuire | Vai chính |
| 2001–2005 | Express Yourself | Chính mình | 9 tập |
| 2002 | Cadet Kelly | Kelly Collins | Phim điện ảnh truyền hình |
| 2003–2005 | George Lopez | Stephanie / Kenzie[2] | 2 tập |
| 2003 | American Dreams | The Shangri-Las Member | Tập: "Change a Comin"[2] |
| 2004 | Frasier | Britney | Lồng tiếng; Tập: "Frasier-Lite"[2] |
| 2005 | Joan of Arcadia | Dylan Samuels | Tập: "The Rise & Fall of Joan Girardi" |
| Dear Santa | Chính mình | Phim điện ảnh truyền hình | |
| 2006 | Rebelde | Tập: "#3.100" | |
| 2007 | The Andy Milonakis Show | Tập: "Andy Moves to L.A." | |
| Hilary Duff: This Is Now | 2 tập | ||
| 2009 | Ghost Whisperer | Morgan Jeffries | Tập: "Thrilled to Death" |
| Law & Order: Special Victims Unit | Ashlee Walker | Tập: "Selfish" | |
| Gossip Girl | Olivia Burke | Vai diễn định kỳ (mùa 3); 6 tập | |
| 2010 | Beauty & the Briefcase | Lane Daniels | Phim điện ảnh truyền hình; cũng là nhà sản xuất |
| Community | Meghan | Tập: "Aerodynamics of Gender" | |
| 2012 | Project Runway | Chính mình | Tập: "It's Fashion Baby" |
| 2013 | Raising Hope | Rachel | Tập: "The Old Girl" |
| Two and a Half Men | Stacey | Tập: "Cows, Prepare to Be Tipped" | |
| Dora the Explorer | Jessica the Ice Witch | Lồng tiếng; Tập: "Dora's Ice Skating Spectacular" | |
| 2014 | The Real Girl's Kitchen | Chính mình | 3 tập |
| 2015–2021 | Younger | Kelsey Peters | Vai chính |
| 2016–2017 | The Talk | Chính mình | 3 tập |
| 2018 | Who Do You Think You Are? | Tập ngày "June 4, 2018"[3] | |
| 2022 | The Bachelor | Mùa 26; Tập: "Week 2" | |
| My Best Friend's Kitchen with Gaby Dalkin | Tập: "Traditional Thanksgiving"[4] | ||
| 2022–2023 | How I Met Your Father[5] | Sophie Tompkins | Vai chính; cũng là nhà sản xuất |
Phim chiếu mạng
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa phim | Vai diễn | Chú thích |
|---|---|---|---|
| 2009 | The Chase | Nhiều | 6 tập; để quảng bá cho dòng quần áo của cô Femme cho DKNY[6] |
| 2016 | What Last Minute Christmas Shopping Is Really Like (ft. Hilary Duff) | Chính mình | Tiểu phẩm với YouTuber người Canada Lilly Singh[7] |
| 2018 | Staying Fresh with Hilary Duff | 4 tập; được thực hiện với sự hợp tác của Walmart và Tastemade để giáo dục người xem về các mẹo mua sắm tạp hóa[8] | |
| 2020 | Lady Parts | Tập: "How to Survive Puberty"[9] |
Danh sách đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]- Santa Claus Lane (2002)
- Metamorphosis (2003)
- Hilary Duff (2004)
- Dignity (2007)
- Breathe In. Breathe Out. (2015)
Lưu diễn
[sửa | sửa mã nguồn]- Metamorphosis Tour (2003–2004)
- Most Wanted Tour (2004–2005)
- Still Most Wanted Tour (2005–2006)
- Dignity Tour (2007–2008)
Tác phẩm đã viết
[sửa | sửa mã nguồn]- Elixir Trilogy
- Các tác phẩm đã xuất bản khác
Thành tựu
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Trakin, Roy (ngày 23 tháng 7 năm 2014). "Hilary Duff Signs to RCA Records". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2022.
- ^ a b c d e Rettenmund, Matthew (tháng 7 năm 2005). Hilary Duff: All Access. Berkley Trade. ISBN 0-425-20519-3.
- ^ "Hilary Duff could have been a Scottish princess in a past century". Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018.
- ^ "My Best Friend's Kitchen with Gaby Dalkin - Traditional Thanksgiving with Hilary Duff".
- ^ Goldsmith, Annie (ngày 22 tháng 4 năm 2021). "Hilary Duff Will Star in a How I Met Your Mother Spinoff". Town & Country. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
- ^ "YouTube". Youtube.com. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- ^ "YouTube". Youtube.com. ngày 23 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
- ^ "YouTube". Youtube.com. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- ^ "'Lady Parts' with Sarah Hyland: How to Survive Puberty, with Hilary Duff & Ashley Benson". ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2024 – qua YouTube.
- ^ "My Little Brave Girl". Penguin Random House Canada. Truy cập 12 tháng 1, 2021.
- ^ "My Little Sweet Boy". Penguin Random House Canada. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2023.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Dougherty, Terri (2007). Hilary Duff. People in the News. Farmington Hills, Michigan: Lucent Books. ISBN 978-1-4205-0012-7. OCLC 162126826.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Sinh năm 1987
- Nhân vật còn sống
- Nữ ca sĩ Mỹ
- Nghệ sĩ của Walt Disney Records
- Nhà sản xuất thu âm Mỹ
- Nhà tạo mẫu Mỹ
- Nhà từ thiện Mỹ
- Nữ diễn viên điện ảnh Mỹ
- Nữ diễn viên Mỹ thế kỷ 20
- Nữ diễn viên Mỹ thế kỷ 21
- Nữ diễn viên truyền hình Mỹ
- Nữ diễn viên thiếu nhi Mỹ
- Nữ doanh nhân Hoa Kỳ
- Tiểu thuyết gia Mỹ thế kỷ 21
- Ca sĩ Mỹ thế kỷ 21
- Ca sĩ thiếu nhi Mỹ
- Nhạc sĩ nhạc dance Mỹ
- Nữ ca sĩ nhạc pop Mỹ
- Nữ ca sĩ-người viết bài hát Mỹ
- Nhà sản xuất phim Mỹ
- Ca sĩ nhạc pop rock Mỹ
- Nữ diễn viên lồng tiếng Mỹ
- Nhạc sĩ nhạc pop thiếu nhi
- Nghệ sĩ của Hollywood Records
- Nghệ sĩ của RCA Records
- Người hoạt động xã hội vì quyền động vật
- Bubblegum pop
- Doanh nhân Mỹ thế kỷ 21
- Nữ nhà văn thế kỷ 21
- Doanh nhân thời trang Mỹ
- Nữ ca sĩ thế kỷ 21
- Ca sĩ nhạc pop Mỹ
- Doanh nhân Mỹ thế kỷ 20