Kisurra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Kisurra
Kisurra trên bản đồ Iraq
Kisurra
Kisurra
Vị trí ở Iraq
Tọa độ: 31°50′17″B 45°28′50″Đ / 31,83806°B 45,48056°Đ / 31.83806; 45.48056
Trực thuộcIraq sửa dữ liệu
Múi giờUTC+3 sửa dữ liệu

Kisurra (nay là Tell Abu Hatab, Al-Qādisiyyah, Iraq) là một thành phố của người Sumer cổ đại nằm trên bờ phía tây của sông Euphrates, 7 km (4,3 dặm) về phía bắc Shuruppak. Tên gọi của thành phố được mô tả là có nghĩa là "nơi quay tròn" và cũng là "ranh giới mương". Vị thần chính của Kisurra là Ninurta. Về sau trung tâm tôn giáo Lưỡng Hà chủ yếu của Ishara là nằm ở Kisurra, mặc dù vị nữ thần còn cho là đã được tôn thờ trên một khu vực rộng lớn giữa người Syria, CanaanHittite.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kisurra được thành lập khoảng năm 2700 TCN trong thời kỳ Tiền Triều đại II của người Sumer. Cuối phía nam của con Kênh Isinnitum đã tham gia trở lại vào Euphrates ở Kisurra.[2] Thành phố tồn tại như một trung tâm thương mại và vận chuyển qua Akkad và một phần của Đế quốc Babylon, cho đến khi các văn bản chữ hình nêm và khai quật khảo cổ cho thấy một sự suy tàn vào thời của Hammurabi (khoảng năm 1800 TCN).[3]

Vua xứ Kisurra[sửa | sửa mã nguồn]

  • Itur-Šamaš khoảng 2138 TCN đã cho xây dựng 'Cánh cổng Hadi-el', bức tường thành của Kisurra.[4]
  • Manabaltiel khoảng 2123 TCN
  • Năm 2113 TCN Thành phố Kisurra bị mất độc lập dưới quyền bá chủ của các vị vua của thành phố Ur
  • Šarrasyurrm khoảng 2108 TCN
  • Ubaya khoảng 2093 TCN
  • Zikrum khoảng 2078 TCN
  • Vào năm 2048 TCN Vua Bur-Sin xứ Ur đã phế bỏ vua xứ Kisurra
  • Ibbi-Šamaš 2030-2013 TCN
  • Vua Ur Nammu xứ Ur đã phế bỏ ngôi vị của vua Ibbi-Šamaš vào năm 2013 TCN [5]

Khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà khảo cổ Đức, bắt đầu với Robert Koldewey vào năm 1902, đã tìm thấy nhiều bảng chữ hình nêm từ Tell Abu Hatab.[6][7][8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cận Đông cổ đại

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Isara
  2. ^ “Sumerian Waterways”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  3. ^ Rogers, Robert William (1915) A History of Babylonia and Assyria. The Abingdon Press p435
  4. ^ NETBible: Babylon
  5. ^ Zimmerer, Neil (2003) The Chronology of Genesis: A Complete History of the Nefilim. Adventures Unlimited Press ISBN 1-931882-22-3 p30
  6. ^ Walter Andrae, Die Umgebung von Fara und Abu Hatab, Mitteilungen der Deutschen Orient Gesellschaft, no. 16, pp. 24-30, 1903
  7. ^ Walter Andrae, Ausgrabungen in Fara und Abu Hatab. Bericht über die Zeit vom 15. August 1902 bis 10. Januar 1903, Mitteilungen der Deutschen Orient Gesellschaft, no. 17, pp. 4-35, 1903
  8. ^ [1][liên kết hỏng] E. Heinrich, Fara: Ergebmisse der Ausgrabungen der Deustchen Orient Gesellschaft in Fara und Abu Hatab 1902/03, J.C. Hinrichs, 1931

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anne Goddeeris, Tablets from Kisurra in the collections of The British Museum, Harrasowitz, 2009, ISBN 978-3-447-06064-6
  • Anne Goddeeris, The Economic Basis of the Local Palace of Kisurra, Zeitschrift für Assyrologie und vorderasiatische Archäologie, vol. 97, issue 1, pp. 47–85, 2007
  • Burkhart Kienast, Die altbabylonischen Briefe und Urkunden aus Kisurra, Steiner, 1978, ISBN 3-515-02592-8
  • E. J. Banks, Impressions from the Excavations by the Germans at Fara and Abu Hatab, Biblical World, vol. 24, pp. 138–146, 1904

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 31°50′17″B 45°28′50″Đ / 31,83806°B 45,48056°Đ / 31.83806; 45.48056