Mật mã Da Vinci

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mật mã Da Vinci
The Da Vinci Code
Mật mã davinci.jpg
Tác giả Dan Brown
Quốc gia Mỹ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Thể loại Tôn giáo, tội ác, hư cấu giả tưởng, huyền bí
Kiểu sách sách in
ISBN ISBN 0-385-50420-9 (ấn bản bìa cứng ở Mỹ), ISBN 0-593-05244-7 (ấn bản bìa cứng ở Anh) & ISBN 1-4000-7917-9 (ấn bản bìa mềm ở Mỹ)
Cuốn trước Thiên thần và ác quỷ
Cuốn sau Biểu tượng thất truyền
Bản tiếng Việt
Người dịch Đỗ Thu Hà

Mật mã Da Vinci (tiếng Anh: The Da Vinci Code) là một tiểu thuyết của nhà văn người Mỹ Dan Brown được xuất bản năm 2003 bởi nhà xuất bản Doubleday Fiction (ISBN 0385504209). Đây là một trong số các quyển sách bán chạy nhất thế giới với trên 40 triệu quyển được bán ra (tính đến tháng 3, 2006), và đã được dịch ra 44 ngôn ngữ.

Tổng hợp các thể loại như trinh thám, giật gân và âm mưu đen tối, quyển sách là phần hai của bộ Tam phẩm (trilogy) - bắt đầu với quyển Thiên thần và Ác quỷ (Angels and Demons) (trong đó nhân vật Robert Langdon được giới thiệu), và sẽ kết thúc bằng Biểu tượng thất truyền (The Lost Symbol, trước đây được biết đến với tên The Solomon Key)[1].

Cốt truyện của tiểu thuyết kể về âm mưu của Giáo hội Công giáo nhằm che giấu sự thật về Chúa Giê-su. Truyện ám chỉ rằng Tòa thánh Vatican biết rõ âm mưu này từ hai ngàn năm qua, nhưng vẫn giấu kín để giữ vững quyền lực của mình. Sau khi vừa xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã khơi dậy mạnh mẽ sự tò mò khắp thế giới đi tìm hiểu sự thật về Sự tích Chén Thánh, và vai trò của Mary Magdalene trong lịch sử Giáo hội Công giáo.

Mật mã Da Vinci nhận được nhiều phê bình sâu sắc. Những người ủng hộ cho rằng quyển tiểu thuyết rất sáng tạo, đầy kịch tính và làm cho người xem phải suy nghĩ. Người chỉ trích thì cho rằng quyển sách không chính xác và viết rất kém, những chỉ trích còn lên án các ẩn ý xấu của Dan Brown về Giáo hội Công giáo.

Lược truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

Truyện bắt đầu bằng những nỗ lực của giáo sư môn "Biểu tượng Tôn giáo" (Religious Symbology) Robert Langdon tại Đại học Harvard cùng Sophie Neuveu - cháu gái của Jacques Saunière nhằm làm sáng tỏ cái chết bí mật của người quản lý nổi tiếng Jacques Saunière của Bảo tàng Louvre tại Paris. Thi thể của Saunière được tìm thấy sâu trong Bảo tàng Louvre trong tư thế tương tự như bức tranh nổi tiếng Người Vitruvius (Vitruvian Man) của Leonardo Da Vinci, với một thông điệp bí ẩn viết cạnh, và một hình sao năm cánh (ngũ giác) vẽ trên bụng bằng máu. Như tên của tiểu thuyết hàm chỉ, các thông điệp đầy ẩn ý từ các tác phẩm của Leonardo như Mona LisaTiệc Ly (Bữa tối Cuối cùng) (The Last Supper) xuất hiện xuyên suốt tác phẩm dẫn dắt các manh mối làm sáng tỏ vụ án đầy bí mật này.

Có hai bí ẩn trong cái chết của Saunière:

  • Bí mật nào mà Saunière che giấu đã đem đến cái chết của ông ta?
  • Ai là chủ mưu việc ám sát?

Câu chuyện dẫn độc giả theo nhiều sự việc và kết cấu cùng xảy ra đan xen, với nhiều nhân vật khác nhau, nhưng đều có liên quan đến vụ án. Chỉ vào lúc kết thúc, toàn cảnh câu chuyện mới trở nên rõ ràng, vì vậy độc giả bị cuốn hút từ đầu đến phút cuối.

Để làm sáng tỏ câu chuyện, Dan Brown đã lồng nhiều suy luận về các trò chơi đảo lộn chữ cái (anagram), cách "chơi chữ" bằng nhiều ngôn ngữ đã thất truyền, và cách giải thích các con số liên quan. Đáp án cuối cùng có liên quan mật thiết đến địa điểm cất giấu Chén Thánh (Sangreal, Holy Grail) và của một hội kín bí mật là Tu viện Sion (Priory of Sion) và Hiệp sĩ dòng Đền (Knights Templar). Một tổ chức tôn giáo khác là Opus Dei cũng có liên hệ đến cốt truyện. Nhưng có chính xác vậy không, tuy chỉ là trong hư cấu? Tác giả không kết luận điều gì, cũng không lên án hoặc tố cáo ai, mà để cho độc giả tự diễn giải. Vì vậy, độc giả tuy đọc cùng một tiểu thuyết nhưng lại có cách hiểu khác nhau.

Đến cuối câu chuyện, nhiều tình tiết được nêu ra để làm tiền đề cho quyển thứ ba và cuối cùng trong loạt tam phẩm này, Chìa khóa Solomon. (xuất bản năm 2009)

Hết phần cho biết trước nội dung.

Các nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Robert Langdon sinh ngày 22 tháng 6, năm 1964 (tác giả Dan Brown cũng sinh vào ngày này), là giáo sư của Trường Đại học Harvard, chuyên ngành Ký tượng Tôn giáo. Hơn 40 tuổi, sau sự việc các cuốn sách của ông về tôn giáo và ký tượng thờ cúng đã làm ông nổi danh trong giới nghệ thuật rồi tiếp đến là biết đến rộng rãi ở Vatican. Trong một chuyến đi Pháp, ở tại khách sạn Ritz Paris, ông bị đánh thức vào nửa đêm do có sự nghi ngờ về cái chết của Phụ trách bảo tàng Louvre - Jacques Saunière. Trước đó ông được tham gia một cuộc thuyết trình lớn, MC của buổi thuyết trình đã nhắc lại sự việc ông được tờ Boston Magazine xếp vào TOP 10 người đàn ông hấp dẫn nhất thành phố. Langdon có người tình cũ là Vittoria. Kết truyện, ông về với cô Sophie.
  • Jacques Saunière là Đại sư hiện tại của Tu viện Sion, người phụ trách bảo tàng tài giỏi nổi tiếng của Louvre. Ông bị Silas giết ngay ở chính bảo tàng của mình. Để tự cứu mạng, ông đã nói dối Silas theo một mẫu đã chuẩn bị cùng 3 người giữ bí mật nữa. Tuy nhiên, Silas vẫn cứ giết ông. Một đầu đạn găm trúng bụng ông, Silas để ông chết từ từ. Sau khi nghe thấy lời Silas rằng 3 người giữ bí mật cuối cùng của Tu viện Sion cũng đã bị hắn giết chết, người cuối cùng giữ bí mật là ông đã quyết định để lại mật mã dựa trên tác phẩm của Leonardo Da Vinci cùng rất nhiều loại mật mã khác ông từng sử dụng trước đó. Ông đặc biệt yêu quý cháu gái của mình - cô Sophie. Tuy nhiên sau một sự hiểu lầm khi Sophie 22 tuổi, cô đã cự tuyệt và xa lánh ông, không một sự giải thích hay liên lạc.
  • Sophie Neveu là nhân viên giải mật mã 32 tuổi. Cô là cháu nội của Jacques Saunière và được ông thường gọi là Công chúa (princess). Qua lần hiểu lầm giữa ông với cô khi cô 22 tuổi, Sophie đã cắt đứt liên lạc và mọi sự giải thích với ông mình. Ngay từ nhỏ, gia đình Sophie bị chia làm 2: cô và ông cô; bà cô và em trai cô. Sophie và em trai đều được ông/bà mình nói rằng gia đình bị một tai nạn làm cho số thành viên kia của gia đình bị chết. Khi biết sự thật này thì cũng là lúc mật mã sắp được giải xong. Cô gặp lại bà và em mình ngay hôm sau khi ông nội cô bị ám sát. Tên của cô được đặt theo số PHI (=1.618) - một con số coi là đẹp nhất trong vũ trụ: Sophie. Từ tên của cô, ông cô đã có nhiều mật mã liên quan.
  • Leigh Teabing (tức Thầy giáo) là nhà Sử học nổi tiếng của nước Anh, được nhận Huân chương Hiệp sĩ do chính nữ hoàng Anh trao tặng. Ông bị thương ở cả 2 chân. Ông là người bạn thân thiết của Robert Langdon. Do khát khao để tìm ra Chén Thánh, ông đã ẩn danh dưới nghĩa vụ Thầy giáo của Manuel Aringarosa, Silas, Rémy Legaludec. Những cuộc gặp mặt của họ đều được giấu kín và chỉ có duy nhất Rémy được biết mặt ông - cùng với danh nghĩa là nhà bếp riêng. Ông thường giả giọng Pháp, để lừa những học trò của mình. Teabing có đủ những phương tiện hiện đại hơn cả cảnh sát để truy tìm Chén Thánh, ví dụ như hệ thống nghe lén từ xa. Căn nhà của ông tọa lạc tại 185 mẫu đất rộng lớn của lâu đài Villette. Khi thu nhận học trò, ông luôn hứa rằng sẽ thưởng cho họ 20 triệu euro nếu xong việc. Tuy nhiên, đến phút cuối, trừ Manuel Aringarosa do đầu thú từ trước với cảnh sát ra, thì ai cũng bị ông giết thành công một cách tinh vi, kín đáo.

Cảnh sát[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bezu Fache có thân hình to lớn. Ông là một cảnh sát tài giỏi và khó tính. Ông đã nhầm lẫn trong việc nghi ngờ Robert Langdon là thủ phạm giết Saunière, và mời ông ta đến hiện trường vụ án để hòng Langdon có sơ hở. Tuy nhiên Sophie đã cứu Langdon ra ngoài, đánh lạc hướng của ông. Tuy nhiên ông đã sớm nhận ra sai sót của mình với sự đầu thú của Manuel Aringarosa. Khi Manuel Aringarosa nằm trên bệnh viện ở Anh, ông đã trả lại cho Manuel va li tiền cùng chiếc nhẫn mang đầy quyền lực của Opus-Dei. Sai sót đỉnh điểm của ông là đã đưa Langdon và Sophie lên truyền hình về vụ giết người, nhưng Jérôme Collect - một nhân viên mà ông thường trách mắng đã giúp ông qua lời phỏng vấn của phóng viên đài BBC là đó chỉ là cách truy tìm thủ phạm thực sự đầy sáng tạo của Fache. Ông làm như vậy để tên tội phạm thực sự chủ quan rồi bị lộ ra. Sau sự việc này, ông quyết định nghỉ hưu.
  • Jérôme Collect

Tòng phạm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Silas là tên thủ phạm giết Jacques Saunière cùng với 3 người Pháp quan giữ bí mật của Tu viện Sion và 4 người trong nhà thờ Sant-Sulpice. Hắn cao to, là 1 người bạch tạng. Từ nhỏ hắn đã có tuổi thơ đau buồn: bố hắn do nghiện rượu, rất hay đánh đập chửi mắng hắn và mẹ hắn vì đã sinh ra 1 kẻ bạch tạng như hắn. Một ngày nọ, ông giết mẹ Silas, Silas chứng kiến liền cầm con dao ngay trong bếp đâm chết cha hắn bằng nhiều cú đâm rồi trốn biệt ra ngoài, khi đó cậu 7 tuổi. Hắn lưu lạc đó đây, đồng thời chuyên ăn cắp vặt và chịu sự ghẻ lạnh của mọi người. Họ bảo hắn là một con ma. Hắn giết 1 người ở hải quan và chuẩn bị giết đến người thứ hai thì bị bắt. Khi bị đi tù hàng chục năm, có một hôm động đất và hắn được cứu thoát. Rồi hắn bỏ chạy đến nhà thờ của Manuel Aringarosa. Ông biết hắn là tù nhân nhưng vẫn cưu mang và cứu hắn. Manuel đã đưa cho hắn 1 quyển kinh thánh bằng tiếng Pháp, viết về một tù nhân tên là Silas luôn ca ngợi chúa, cuối cùng cũng được cứu khỏi nhà tù bằng trận động đất. Tên Silas này được đặt cho cậu bé. Sau đó lớn lên, hắn là một trong những học trò tin cậy, trung thành do rất được việc của Thầy giáo. Chịu những nghi lễ của Opus Dei, hắn luôn đeo thắt lưng nhọn vào người để tự hành xác, cũng như việc rất tin vào Chúa. Sau khi làm gần việc cho Thầy giáo (không biết là Teabing), Thầy đã phản bội lại Silas bằng cách đưa cậu đến một khách sạn tại Anh. Ở đó cậu bị truy tìm do dính dáng đến các vụ giết người. Silas bỏ trốn, vào đúng lúc cậu nổ súng thì trúng thẳng vào Aringarosa và ông bị thương nặng. Hắn hết sức đưa Aringarosa vào bệnh viện, hắn dù là một kẻ sát nhân nhưng vẫn biết ơn Aringarosa - người hắn gọi là Cha. Ra khỏi ngoài bệnh viện, hắn nhìn thấy tuyết, hắn tin vào Chúa và cầu nguyện cho Aringarosa bình phục, và rồi chết ở đó.
  • Manuel Aringarosa
  • Rémy Legaludec là một người thân cận của thầy giáo, và cũng là người duy nhất biết đến thân phận của Thầy. Ông làm nhiệm vụ đầu bếp, đồng thời thu thập các tín hiệu từ "con rệp" (loại nghe trộm hiện đại) trên một nóc nhà ở Château Villette, do Thầy bị gãy chân. Rémy Legaludec đã giúp Thầy làm rất nhiều việc, đặc biệt là đánh lạc hướng Langdon và Sophie. Ông có một điểm yếu là bị dị ứng với lạc. Ông bị chết do 1 ca dị ứng bởi uống rượu có lạc ở dưới mà Thầy giáo đưa cho khi chuẩn bị xong nhiệm vụ.

Nhân vật phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Pamela Gettum là nhân viên thư viện của Viện Nghiên cứu Thần Học Hệ Thống. Cô đã giúp Langdon và Sophie tìm ra Hiệp sĩ Templar chính là nhà khoa học Isaac Newton bằng khả năng tìm dữ liệu trong máy tính của thư viện.
  • Stettner là một học trò thông minh, láu cá tại Đại học Harvard của Langdon. Cậu không xuất hiện và gần như không có ảnh hưởng gì trong truyện nhưng cậu lại hay xuất hiện trong trí nhớ của Langdon mỗi khi nhớ về những bài giảng tôn giáo của mình trong khi đang giải 1 mật mã nào đó.
  • Bà Marie Chauvel
  • Hướng dẫn viên Nhà thờ Rosslyn
  • André Vernet
  • Xơ Sandrine Bieil tại nhà thờ Sant-Sulpice
  • Nhân viên an ninh bảo tàng Louvre

Nguồn và truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác phẩm tranh liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng (Leonardo da Vinci)
Mona Lisa (Leonardo da Vinci)

Trong Mật mã Da Vinci có một số đoạn viết gần giống như một sự nghiên cứu về những bức tranh của danh họa Leonardo da Vinci, thậm chí có những bức tranh là đầu mối của sự giải mã.

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuốn sách của mình, Dan Brown đã tài tình gắn kết những truyền thuyết và những tiểu thuyết, tài liệu chưa được chứng minh rõ ràng. Dan Brown đã dùng các dữ kiện trong quyển "Máu Thánh, Chén Thánh" (Holy Blood, Holy Grail) của Michael Baigent, Richard Leigh, và Henry LincolnHiệp sĩ dòng Đền (Knights Templar), "Mạc Khải về Hiệp sĩ" (The Templar Revelation) để xây dựng Mật mã Da Vinci. Các tác giả trên đây hầu hết chỉ xoay quanh những nghi vấn đã có hàng ngàn năm trước, nhưng không ai quả quyết đó là sự thật lịch sử. “Mật mã Da Vinci” còn đề cập tới Biển Chết và các văn kiện được tìm thấy tại Nag Hammadi, tại Ai Cập vào năm 1945 như Phúc Âm Philip, Phúc âm Maria, Khải Huyền của Thánh Paulo, tuy mang tên các tông đồ của Chúa nhưng những cuốn này viết vào khoảng 200 năm sau khi các môn đồ đó đã qua đời.

Từ Chén Thánh có xuất xứ một từ tiếng Pháp cổ là Sangraal. Theo cách lý giải thông thường, Sangraal hợp thành từ hai từ San (Thánh) và Graal (Chén). Trong tiểu thuyết, Dan Brown cho rằng có thể hiểu Sangraal theo một nghĩa khác và chiết tự Sangraal thành hai từ Sang (Máu) và Raal (Hoàng gia). Biểu tượng chữ V của Chén được hiểu như biểu tượng của người phụ nữ. Vì thế, Sangraal không chỉ là Chén Thánh mà còn là Dòng máu Hoàng tộc và ám chỉ một người phụ nữ, Mary Magdalene, đã mang trong mình giọt máu hoàng tộc, giọt máu của Chúa Giê-su.

Phản ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Hoan nghênh[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu tuyết của Dan Brown rất thành công khi được xuất bản năm 2003, cạnh tranh với cả bộ sách nổi tiếng Harry Potter. Có nhiều nhiều bài phê bình tán thành trong tờ The New York Times, Tạp chí People, và tờ The Washington Post.[2] Nhiều người khen nó là một sách hay và làm cho người đọc phải suy nghĩ. Nó cũng làm nhiều người quan tâm lại về lịch sử Giáo hội Công giáo. Cùng với những quan tâm về giáo hội, Mật mã Da Vinci cũng sinh ra nhiều "sách nhái" (Publishers Weekly gọi những sách này là "knockoff"[3]), tức là các tiểu thuyết rất giống với The Da Vinci Code, thí dụ The Last Templar của Raymond KhouryThe Templar Legacy của Steve Berry.

Mật mã Da Vinci hiện đang là sách ưa thích của nhiều sinh viên nhất trên danh bạ điện tử Facebook.

Chỉ trích và tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

Mật mã Da Vinci đã gây ra nhiều chỉ trích khi nó được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2003. Phần nhiều chỉ trích việc suy đoán và xuyên tạc của những phần quan trọng nhất của Kitô giáo và lịch sử của Giáo hội Công giáo Rôma, đó cũng là một điểm đáng chỉ trích của "Mật mã Da Vinci" vì có thể coi la một sự xúc phạm tới những người Thiên Chúa giáo, cộng thêm những chỉ trích về các miêu tả sai về mỹ thuật, lịch sử, và kiến trúc Âu Châu.

Tuy sách này là tiểu thuyết giả tưởng, nhưng câu mở đầu của sách nói rằng "all descriptions of artwork, architecture, documents, and secret rituals in this novel are accurate" (tạm dịch là "tất cả mọi miêu tả về tác phẩm nghệ thuật, kiến trúc, văn kiện, và lễ nghi bí mật trong truyện này đều là gần đúng"), nên nhiều độc giả cho rằng Mật mã Da Vinci là một bản giả sử mượn tiểu thuyết để thổi phồng các chuyện xấu trong lịch sử của Kitô giáo truyền thống. Bởi vậy, cuốn sách nói chung nhận phải phản ứng phản đối từ các cộng đồng Công giáo và cộng đồng khác thuộc Kitô giáo, cũng như những nhà lịch sử. Họ cho rằng Brown gắn kết những truyền thuyết và nghi vấn đã có từ rất lâu và xuyên tạc – và trong một số trường hợp, bịa đặt – lịch sử [4]. Có ít nhất 10 sách đã được xuất bản nhắm bác bỏ các luận điệu của ông. Đây là những sách thủ công gia đình viết ăn theo Mật mã Da Vinci.

Vụ kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2006, Michael BaigentRichard Leigh, hai trong ba tác giả của The Holy Blood and the Holy Grail, mang nhà xuất bản của Mật mã Da Vinci tại Anh ra tòa về tội vi phạm bản quyền, họ cho là đạo văn.[5] Có một số nguồn cho rằng vụ kiện này chỉ là trò quảng cáo[6] với mục đích tăng doanh số của cuốn sách The Holy Blood and the Holy Grail, thực tế là doanh số của cuốn sách đã tăng từ 350 bản lên 4000 bản một tuần sau vụ kiện.

Ngày 7 tháng 4 năm 2006, thẩm phán Tối cao Pháp viện Peter Smith bác bỏ kết tội vi phạm bản quyền của Michael Baigent và Richard Leigh, và Dan Brown thắng vụ này.[7] Chi phí hơn 1 triệu bảng của vụ kiện mà các tác giả của The Holy Blood and the Holy Grail phải gánh chịu được coi là khá lớn so với lợi nhuận đem lại do việc tăng doanh số bán sách.[8]

Phản ứng của các Giám mục Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị Giám mục Công giáo Hoa Kỳ mở cửa một website[9] để bác các luận điệu chính của tiểu thuyết. Các Giám mục đang lo lắng về các lỗi và câu sai quan trọng trong Mật mã Da Vinci.

Các bản in[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn sách này đã được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ, phần nhiều được in như sách bìa cứng.[10] Các hình dạng khác bao gồm cát xét, CD, và e-book. Các cuốn sách bìa thường sẽ được xuất bản từ tháng 3 năm 2006 cùng lúc với phim.

Bản tiếng Việt được Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2005, Tuy nhiên có nhiều lỗi dịch thuật được khám phá. Nhà xuất bản đã ngưng xuất bản cuốn này để hiệu đính lại bản dịch.

Bản dịch do dịch giả Dương Tường hiệu đính đã được xuất bản vào tháng 5 năm 2006.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, cuốn sách đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên với sự tham gia của nam điễn viên Tom Hanks, đạo diễn bởi Ron Howard.

Chú thích và nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rushton, Katherine (2007-05-18). “New Brown unlikely this year”. BookSeller.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ Reviews of The Da Vinci Code – website chính thức của Dan Brown
  3. ^ Bài phê bình về sách The Last Templar
  4. ^ Phê phán 'Da Vinci Code' (tổng hợp)
  5. ^ Kennedy, Maev (28 tháng 2). “In a packed high court, a new twist in The Da Vinci Code begins to unfold”. The Guardian.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  6. ^ “Expanding on a theory isn't plagiarism”. Collegiate Times. 14 tháng 3.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  7. ^ “Court rejects Da Vinci copy claim”. BBC News. 7 tháng 4.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  8. ^ “Publish and be damned if you don't sell more”. The Birmingham Post. 10 tháng 3.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  9. ^ Jesus Decoded
  10. ^ World editions of The Da Vinci Code – website chính thức của Dan Brown

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phản bác[sửa | sửa mã nguồn]