Macronectes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Macronectes
Southerngiantpetrel southshetlands.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Aves
Bộ (ordo)Procellariiformes
Họ (familia)Procellariidae
Chi (genus)Macronectes
Richmond, 1905

Macronectes là một chi chim trong họ Procellariidae.[1] Chúng là loài chim lớn nhất của họ Hải âu. Cả hai loài đều có phạm vi phân bố giới hạn ở Nam bán cầu, và mặc dù sự phân bố của chúng trùng lặp đáng kể, với cả hai loài sinh sản trên quần đảo Prince Edward, quần đảo Crozet, quần đảo Kerguelen, đảo Macquarie và Nam Georgia, nhiều quần thể phía nam làm tổ xa hơn về phía nam, với các đàn như xa về phía nam như Nam Cực. Chúng là những loài săn mồiăn xác thối cực kỳ hung hãn.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Petrel lớn phương Nam hơi lớn hơn petrel petrel phương bắc, cận nặng 3 đến 8 kg (6,6–17,6 lb), chiều dài ngang cánh 180 đến 210 cm (71–83 in), và chiều dài thân 86 đến 100 cm (34–39 in).[2][3] Petrel phương Bắc cân nặng 3 đến 5 kg (6,6–11,0 lb), chiều dài ngang cánh 150 đến 210 cm (59–83 in) và chiều dài thân 80 đến 95 cm (31–37 in).[4][5]

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Petrel là loài săn mồi rất cơ hội. Duy nhất trong số các loài procellaridae, chúng kiếm ăn cả trên cạn và trên biển; trên thực tế, chúng tìm thấy hầu hết thức ăn của chúng gần bờ biển. Trên cạn, chúng ăn xác thối,[2][6] và thường xuyên tìm kiếm thức ăn ở các quần thẻ sinh sản của chim cánh cụthải cẩu. Chúng thể hiện sự thống trị của họ đối với xác thịt với "tư thế của con hải cẩu":[7] đầu và cánh dang ra, đầu hướng vào đối phương và đầu cánh hơi hướng về phía sau; đuôi được nâng lên vị trí thẳng đứng. Chúng cực kỳ hung dữ và giết các loài chim biển khác (thường là chim cánh cụt con, chim cánh cụt trưởng thành bị bệnh hoặc bị thương và chim non của các loài chim biển khác), thậm chí cả những con lớn bằng hải âu mày đen, chúng giết bằng cách đập chết hoặc dìm con mồi chết đuối.[8] Trên biển, chúng ăn tôm he, mực và cá. Họ thường đi theo thuyền đánh cá và các tàu khác, với hy vọng nhặt được nội tạng và các loại phế thải khác.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clements, J. F., T. S. Schulenberg, M. J. Iliff, B.L. Sullivan, C. L. Wood, and D. Roberson (2012). “The eBird/Clements checklist of birds of the world: Version 6.7”. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  2. ^ a b Maynard, B. J. (2003)
  3. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2008.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  4. ^ Environment, jurisdiction=Commonwealth of Australia; corporateName=Department of the. “Macronectes halli — Northern Giant Petrel”. www.environment.gov.au (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2017.
  5. ^ Oiseaux.net. “Northern Giant-Petrel - Macronectes halli”. www.oiseaux.net (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2017.
  6. ^ a b BirdLife International (2009a)
  7. ^ de Bruyn, P. J. N. & Cooper, Æ. J. (2005). “Who's the boss? Giant petrel arrival times and interspecific interactions at a seal carcass at sub-Antarctic Marion Island”. Polar Biology. 28 (7): 571–573. doi:10.1007/s00300-005-0724-7. S2CID 43648629.
  8. ^ Cox, J. B. (1978). “Albatross Killed by Giant-petrel” (PDF). Emu. 78 (2): 94–95. doi:10.1071/MU9780094.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]