Mariner 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Mariner 2 (Mariner-Venus 1962), một tàu thăm dò không gian của Mỹ đến sao Kim, là tàu vũ trụ thám hiểm không gian tự động đầu tiên thực hiện một lần đi sát một hành tinh thành công. Với tư cách là tàu vũ trụ thành công đầu tiên trong chương trình NASA Mariner, nó là một phiên bản đơn giản của tàu vũ trụ Block I của chương trình Ranger và bản sao chính xác của tàu Mariner 1. Nhiệm vụ của tàu vũ trụ Mariner 1 và 2 đôi khi được gọi là nhiệm vụ Mariner R. Kế hoạch ban đầu cho các tàu vũ trụ này là hạ cánh thành công xuống vùng Atlas-Centaur, nhưng vấn đề trở nên nghiêm trọng với xe tự hành buộc chương trình phải chuyển sang giai đoạn Agena B nhỏ hơn nhiều. Nhờ vậy, thiết kế của các xe Mariner R được đơn giản hóa rất nhiều. Thiết bị đo đạc trên Marine 1 và 2 ít hơn nhiều so với các thiết bị thăm dò Venera của Liên Xô, bao gồm cả máy ảnh truyền hình vì tên lửa phóng Atlas-Agena B chỉ có một nửa công suất so với tên lửa 8K78 của Liên Xô. Tàu vũ trụ Mariner 2 được phóng từ mũi Canaveral vào ngày 27 tháng 8 năm 1962 và đi qua sát gần với sao Kim, chỉ cách nó 34.773 kilômét (21.607 dặm) vào ngày 14 tháng 12 năm 1962.[1]

Tàu vũ trụ Mariner bao gồm một tấm bảng lục giác có đường kính 100 cm (39,4 in) chứa các tấm pin mặt trời, các thiết bị và ăng-ten. Các dụng cụ khoa học trên tàu vũ trụ Mariner là hai máy đo phóng xạ (một cho sóng viba và một cho sóng hồng ngoại của quang phổ), một cảm biến thiên thạch, cảm biến plasma mặt trời, một cảm biến hạt tích điện và một từ kế. Những công cụ này được thiết kế để đo sự phân bố nhiệt độ trên bề mặt của sao Kim, cũng như đo lường cơ bản bầu khí quyển của sao Kim.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Mariner 2”. US National Space Science Data Center. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013.