Mariner 9

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Mariner 9 (Mariner Mars '71 / Mariner-I) là một cuộc thám hiểm không gian không người lái của NASA đã đóng góp rất lớn cho việc thăm dò sao Hỏa và là một phần của chương trình Mariner. Mariner 9 đã được phóng lên sao Hỏa vào ngày 30 tháng 5 năm 1971[1][2] từ Trạm Không quân Mũi Canaveral và đến hành tinh này vào ngày 14 tháng 11 cùng năm,[1][2] trở thành phi thuyền đầu tiên quay quanh hành tinh khác[3] - chỉ vượt trước chút ít so với Mars 2 và Mars 3 của Liên Xô, cả hai tàu vũ trụ sau này đều đến trong vòng một tháng. Sau nhiều tháng bụi bão, nó đã gửi lại được hình ảnh rõ ràng của bề mặt của sao Hỏa.

Mariner 9 đã trả về 7329 hình ảnh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, kết thúc vào tháng 10 năm 1972.[4]

Mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Mariner 9 được thiết kế để tiếp tục nghiên cứu khí quyển bắt đầu bởi Mariner 6 và 7, và lập bản đồ trên 70% bề mặt sao Hỏa từ độ cao thấp nhất (1.500 km (930 mi)) và ở độ phân giải cao nhất (từ 1 km/pixel đến 100 mét trên mỗi pixel) của bất kỳ nhiệm vụ sao Hỏa nào cho đến thời điểm đó. Một máy đo bức xạ hồng ngoại đã được đưa vào để phát hiện nguồn nhiệt nhằm tìm kiếm bằng chứng về hoạt động núi lửa. Đó là nghiên cứu những thay đổi thời gian trong bầu khí quyển và bề mặt sao Hỏa. Hai mặt trăng của sao Hỏa cũng được phân tích. Mariner 9 đã hoàn tất mục tiêu của mình và còn làm nhiều hơn thế.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Mariner 9: Trajectory Information”. National Space Science Data Center. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  2. ^ a ă “Mariner Mars 1971 Project Final Report” (PDF). NASA Technical Reports Server. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  3. ^ “Mariner 9: Details”. National Space Science Data Center. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  4. ^ NASA PROGRAM & MISSIONS Historical Log