Mars Express

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mars Express
Mars-express-volcanoes-sm.jpg
CG image of Mars Express
Dạng nhiệm vụMars orbiter
Nhà đầu tưESA
COSPAR ID2003-022A
SATCAT №27816
Websiteexploration.esa.int/mars
Thời gian nhiệm vụElapsed:
16 năm, 4 tháng và 15 ngày since launch
15 năm, 9 tháng và 22 ngày at Mars
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Trọng lượng phóng1.120 kg (2.470 lb)
Dry mass666 kg (1.468 lb)
Power460 watts
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóng2 June 2003, 17:45 (2003-06-02UTC17:45Z)  UTC
Tên lửaSoyuz-FG/Fregat
Địa điểm phóngBaikonur 31/6
Nhà thầu chínhStarsem
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuAreocentric
Độ lệch tâm quỹ đạo0.571
Củng điểm quỹ đạo298 km (185 mi)
Củng điểm quỹ đạo10.107 km (6.280 mi)
Độ nghiêng quỹ đạo86.3 degrees
Chu kỳ quỹ đạo7.5 hours
Mars phi thuyền quỹ đạo
Thành phần phi thuyềnMars Express
Vào quỹ đạo25 December 2003, 03:00 UTC
MSD 46206 08:27 AMT
Mars xe tự hành
Thành phần phi thuyềnBeagle 2
Thời điểm hạ cánh25 December 2003, 02:54 UTC
Mars Express mission insignia
ESA solar system insignia for the Mars Express mission

Mars Express là một nhiệm vụ thăm dò không gian được Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) thực hiện. Sứ mệnh của Mars Express là khám phá hành tinh sao Hỏa, và là nhiệm vụ hành tinh đầu tiên do cơ quan này thực hiện. Tên "Express" ban đầu được ám chỉ tới tốc độ và hiệu quả mà tàu vũ trụ này được thiết kế và chế tạo.[1] Tuy nhiên "Express" cũng mô tả hành trình liên hành tinh tương đối ngắn của phi thuyền, kết quả của việc được phóng khi các quỹ đạo của Trái Đất và Sao Hỏa mang chúng đến gần hơn trong khoảng 60.000 năm.

Mars Express bao gồm hai phần, tàu quỹ đạo Mars Express Orbiter và Beagle 2, một tàu hạ cánh được thiết kế để thực hiện nghiên cứu về địa hóa học và sinh học vũ trụ. Mặc dù tàu hạ cánh không thể triển khai hoàn toàn sau khi hạ cánh trên bề mặt sao Hỏa, tàu quỹ đạo đã thực hiện thành công các phép đo khoa học từ đầu năm 2004, cụ thể là, đưa về các hình ảnh có độ phân giải cao và bản đồ khoáng vật bề mặt, âm thanh của cấu trúc dưới mặt đất., xác định chính xác sự lưu thông và thành phần khí quyển, và nghiên cứu sự tương tác của khí quyển với môi trường liên hành tinh.

Do các thông tin khoa học đưa về rất có giá trị và hồ sơ nhiệm vụ rất linh hoạt, Mars Express đã được cấp một số phần nhiệm vụ mở rộng, mới nhất cho đến cuối năm 2020.[2][3][4]

Một số thiết bị trên quỹ đạo, bao gồm các hệ thống camera và một số quang phổ kế, tái sử dụng thiết kế từ sự ra mắt thất bại của sứ mệnh Mars 96 của Nga năm 1996 (các nước châu Âu đã cung cấp phần lớn thiết bị và tài chính cho nhiệm vụ không thành công đó). Thiết kế của Mars Express dựa trên sứ mệnh Rosetta của ESA, trong đó một khoản tiền đáng kể đã được chi cho phát triển. Thiết kế tương tự cũng được sử dụng cho sứ mệnh của Venus Express nhằm tăng độ tin cậy và giảm chi phí và thời gian phát triển. Do những thiết kế lại và tái định hình này, tổng chi phí của dự án là khoảng 345 triệu đô la - chưa bằng một nửa chi phí của nhiệm vụ tương tự của Hoa Kỳ.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “ESA - Mars Express - Mars Express Frequently Asked Questions (FAQs)”. ESA. 18 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016. 
  2. ^ “Mission extensions approved for science missions”. ESA. 7 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ “Working life extensions for ESA’s science missions”. ESA Science & Technology. ESA. 28 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015. 
  4. ^ “Green light for continued operations of ESA science missions”. ESA Science & Technology. ESA. 7 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ Announcement by the European Space Agency on the launch of the Mars Express space probe: "Mars en route for the red planet". (2004). Historic documents of 2003.Washington, DC: CQ Press. Retrieved from http://library.cqpress.com/cqpac/hsdcp03p-229-9844-633819[liên kết hỏng]