Messier 59

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Messier 59 hoặc M59, còn được gọi là NGC 4621, là một thiên hà hình elip trong chòm sao xích đạo Xử Nữ. M59 là một thành viên của Cụm sao Xử Nữ, với thành phần gần nhất có khoảng cách với M59 là &-1-100000000000000.0023278′ arcminute và mờ hơn khoảng 5 độ sáng. Thành viên cụm gần nhất có độ sáng tương đương là thiên hà dạng thấu kính NGC 4638, cách khoảng &-1-100000000000000.00494517′ arcminute..[1] Messier 59 và thiên hà hình elip gần đó Messier 60 đều được Johann Gottfried Koehler phát hiện vào tháng 4 năm 1779 trong quá trình quan sát một sao chổi trên cùng một phần của bầu trời. Charles Messier đã liệt kê cả hai thiên hà này trong Danh mục Messier khoảng ba ngày sau khám phá của Koehler.[2]

Messier 59 là một thiên hà hình elip loại E5 [3] với góc vị trí là 163,3 °,[4] cho thấy hình dạng tổng thể của thiên hà này dạng hình cầu dẹt có độ phẳng 50%.[5] Tuy nhiên, isophote cho thiên hà này đi chệch khỏi một hình elip hoàn hảo, thay vào đó hiển thị hình dạng nhọn. Chúng có thể được phân tách về mặt toán học thành một mô hình ba thành phần, với mỗi phần có độ lệch tâm khác nhau. Thành phần hình elip chính dường như được đặt chồng lên trên một hình giống như đĩa phẳng hơn, với toàn bộ được nhúng trong một quầng sáng tròn. Sự đóng góp độ sáng của các thành phần là 62% cho phần hình elip thuần túy, 22% cho quầng sáng và độ sáng còn lại đến từ phần đĩa. Tỷ lệ ánh sáng của đĩa so với khung elip chính là 0,25, trong khi tỷ lệ này thường gần sát 0,5 trong một thiên hà dạng hạt đậu.[1][6]

Lõi chứa một lỗ đen siêu lớn (SMBH), với khối lượng ước tính gấp 270 triệu lần khối lượng Mặt Trời,[7] và quay ngược lại với phần còn lại của thiên hà, có màu xanh hơn.[8] Lỗ đen này không hoạt động, nhưng có thể phát hiện được dưới dạng nguồn tia Xradio cho thấy dòng vật chất chảy ra.[7] Hạt nhân chứa một đĩa sao được nhúng có màu xanh hơn (trẻ hơn) so với vùng phình ra, với thành phần màu xanh trải dài dọc theo một vị trí góc khoảng 150°. Tính năng đĩa mở rộng này có thể là kết quả của sự hợp nhất thiên hà, sau đó là sự kiện bùng nổ sao.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Mizuno, Takao; Oikawa, Ken-Ichi (1996). "Two-Dimensional Decomposition of a Disky Elliptical Galaxy, NGC 4621". Publications of the Astronomical Society of Japan. 48 (4): 591–600. Bibcode:1996PASJ...48..591M. doi:10.1093/pasj/48.4.591.
  2. ^ K. G. Jones (1991). Messier's Nebulae and Star Clusters (2nd ed.). Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-37079-0.
  3. ^ King, I. R.; Minkowski, R. (March 1966), "Some Properties of Elliptical Galaxies", Astrophysical Journal, 143: 1002, Bibcode:1966ApJ...143.1002K, doi:10.1086/148580.
  4. ^ Long, R. J.; Mao, Shude (April 2012), "Made-to-measure galaxy models - II. Elliptical and lenticular galaxies", Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 421 (3): 2580–2592, arXiv:1201.0951, Bibcode:2012MNRAS.421.2580L, doi:10.1111/j.1365-2966.2012.20488.x.
  5. ^ Van den Bergh, Sidney (1998), Galaxy Morphology and Classification, Cambridge University Press, p. 47, ISBN 978-0521623353
  6. ^ a ă Krajnović, D.; Jaffe, W. (2004). "HST observations of nuclear stellar disks". Astronomy & Astrophysics. 428 (3): 877–890. arXiv:astro-ph/0409061. Bibcode:2004A&A...428..877K. doi:10.1051/0004-6361:20040359.
  7. ^ a ă Wrobel, J. M.; et al. (March 2008). "Outflow-dominated Emission from the Quiescent Massive Black Holes in NGC 4621 and NGC 4697". The Astrophysical Journal. 675 (2): 1041–1047. arXiv:0712.1308. Bibcode:2008ApJ...675.1041W. doi:10.1086/527542.
  8. ^ Wernli, F.; Emsellem, E.; Copin, Y. display-authors=1 (2002). "A 60 pc counter-rotating core in NGC 4621". Astronomy & Astrophysics. 396: 73–81. arXiv:astro-ph/0209361. Bibcode:2002A&A...396...73W. doi:10.1051/0004-6361:20021333.