Tàu đổ bộ lớp Mistral

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mistral (L9013))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mistral
Mistral chuẩn bị cho lễ kỷ niệm ngày 8 tháng 5 năm 2009
Phục vụ (Pháp) Thiếu úy Hải quân Pháp
Đặt tên theo: Gió Mistral
Hãng đóng tàu: Arsenal de Brest, Chantiers de Saint-Nazaire
Đặt lườn:

10 tháng 7 2003 (sau phần tại Brest)

13 tháng 10 2003 (hạ thủy một phần trong Saint-Nazaire)
Hạ thủy: 6 tháng 10 2004 in Brest
Nhập biên chế: Tháng 12 2005
Cảng nhà: Toulon
Số phận: Trong hoạt động
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu tấn công lội nước Mistral
Trọng tải choán nước:

16.500 t (trống)
21.300 t (tải đầy)

32.300 t (với chấn lưu)
Độ dài: 199 m
Sườn ngang: 32 m
Mớn nước: 6,3 m
Động cơ đẩy: Motorisation: 2 động cơ điện Mermaïd (2 × 7 MW)
2 5-cánh cánh quạt
Nhà máy điện: 4 giao điện Wärtsilä 16 V32 (6,2 MW) + 1 phụ trợ phát điện diesel Wärtsilä Vasaa 18V200 (3 MW)
Tốc độ: 18,8 nú
Tầm xa: 10.800 km tại 18 nút
19,800 km at 15 nút
Sức chứa: 2 sà lan, một tiểu đoàn Leclerc, 70 xe
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
20 cán bộ, 80 cán bộ bậc dưới, 60 Tứ thạc sĩ, 450 hành khách (900 cho một hành trình ngắn), 150 nam giới trụ sở hoạt động
Vũ trang:

2 hệ thống Simbad
2 Breda-Mauser 30 mm

4 súng máy M2-HB Browning 12,7 mm
Máy bay mang theo: 16 hạng nặng hoặc 35 máy bay trực thăng hạng nhẹ

Tàu khu trục lớp Hyūga (tiếng Nhật: ひゅうが型護衛艦) là lớp tàu khu trục mang máy bay trực thăng (DDH) thuộc biên chế của Lực lược Phòng vệ trên biển Nhật Bản. Tên của lớp tàu được đặt theo tên của thiết giáp hạm chuyển đổi thành tàu sân bay thuộc Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) thời Chiến tranh thế giới thứ 2. Hyūga vốn là tên một tỉnh trên đảo Kyūshū ở Nhật Bản thời xưa. Đây là lớp tàu lớn thứ hai của JMSDF kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 (chỉ đứng sau tàu khu trục lớp Izumo mới đóng).

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản là một đảo quốc ở Thái Bình Dương với 6.852 hòn đảo lớn nhỏ, có vị trí địa lý tiếp giáp với Trung Quốc, Triều Tiên và Nga - những quốc gia có hạm đội tàu ngầm hùng hậu. Thực tế khách quan đó khiến Nhật Bản phải đánh giá thấu đáo sự thông suốt trên các tuyến hàng hải của mình trong trường hợp xảy ra xung đột trên biển.

Do các ràng buộc của Điều 9 Hiến pháp hòa bình, Nhật Bản không thể triển khai sức mạnh quân sự thông qua các tàu sân bay cỡ lớn. Thay vào đó, họ quyết định thiết kế những tàu khu trục mang trực thăng vừa có khả năng tìm diệt tàu ngầm vừa có thể hỗ trợ các hoạt động khác trong hạm đội, đó là lý do để lớp tàu Hyuga ra đời.

Tàu khu trục lớp Hyuga được phát triển bởi IHI Marine United. Người Nhật bắt đầu đặt ky đóng chiếc đầu tiên thuộc lớp Hyuga mang số hiệu DDH-181 tại Nhà máy đóng tàu Yokohama vào ngày 11 tháng 5 năm 2006, con tàu chính thức được trang bị cho Hải đội hộ vệ số 1 ngày 18 tháng 3 năm 2009. Trong khi đó, chiếc thứ hai JDS Ise (DDH-182) được khởi đóng vào ngày ngày 30 tháng 5 năm 2008 và được đưa vào biên chế của Hải đội hộ vệ số 4 ngày 16 tháng 3 năm 2011.

Về phân cấp thì Hyuga chỉ là một tàu khu trục chở trực thăng cỡ lớn, thừa kề một lớp tàu truyền thống của JMSDF. Nó không giống với loại tàu sân bay hiện có nào, bởi vì tàu không có máy phóng hay đường cất cánh nhảy cầu kiểu “ski-jump”. Ngoài ra, nó cũng như không giống với tàu đổ bộ lớp Mistral vì dù có sự tương đồng về kích thước và lực lượng trực thăng, Hyuga không có các khoang đốc và không phải là tàu đổ bộ đa năng.

JMSDF coi việc sử dụng các tàu khu trục lớp Hyuga như các tàu chống ngầm hiệu quả, thực hiện các chức năng tìm cứu, di tản nhân đạo, bệnh viện dã chiến tại các khu vực tình trạng khẩn cấp, các nhiệm vụ tuần tra biển, đổ quân chính xác bằng máy bay trực thăng, tham gia các chiến dịch quân sự quốc tế với tư cách tàu hỗ trợ. Trong hạm đội JMSDF, các tàu khu trục thuộc lớp Hyuga và Izumo đóng vai trò trung tâm trong 4 Hải đội tàu khu trục mang máy bay trực thăng DDH. Trong quá khứ, JMSDF được chia thành 4 hạm đội '8-8' chuyên về săn tìm và tiêu diệt tàu ngầm Liên Xô. Hiện nay, nó được chia ra làm 4 đội DDH và 4 đội DDG, tàu khu trục chống tên lửa đạn đạo. Các đội DDG sẽ được triển khai giữa Nhật Bản và bán đảo Triều tiên nhằm ngăn ngừa nguy cơ bị Bắc Triều Tiên tấn công bằng tên lửa. 4 đội DDH sẽ có nhiệm vụ bảo vệ vùng biển giữa Okinawa và Trung Quốc.

Hyuga có kích thước: dài 197m, rộng 33m, mớn nước 7m, lượng giãn nước tiêu chuẩn 14.000 tấn, khi đầy tải lên tới 19.000 tấn, tức là còn lớn hơn cả tàu sân bay trực thăng Chakri Naruebet của Thái Lan, các tàu sân bay Giuseppe Garibaldi hay tàu sân bay Príncipe de Asturias của Tây Ban Nha, xấp xỉ tàu sân bay Invincible của Anh. 

Thủy thủ đoàn của tàu được biên chế 360 người (371 người trên DDH-182 JDS Ise). Một hành trình trên biển thực hiện nhiệm vụ mất khoảng 2 đến 3 tuần lễ. Các tàu lớp Hyuga mang đủ nhu yếu phẩm cho thủy thủ đoàn trong 45 ngày giữa các đợt tiếp tế.

Kết cấu các khoang của tàu[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu lớp Hyuga có kết cấu khoang đáy khá lớn, được chia làm nhiều khoang, trên tàu có 2 thang máy chính, trong đó thang máy ở đuôi đủ lớn để vận chuyển trực thăng lên xuống đường băng. Ngoài ra còn có 2 thang máy nâng vũ khí. Vỏ tàu có kết cấu 2 lớp chú trọng tính năng tàng hình, đài quan sát và cột anten đều thiết kế kiểu bịt kín, ống khói được bố trí phía sau, một phần kết cấu sử dụng nguyên liệu hấp thụ sóng, giảm thiểu một cách hiệu quả toàn bộ diện tích phản xạ rađa và tín hiệu hồng ngoại. Đồng thời, tàu có thiết bị đệm giảm rung chấn động cơ, khiến tiếng ồn và độ rung của thân tàu trong nước giảm đáng kể. Mặt boong phía trên là khu vực phóng máy bay với diện tích khoảng 6.400 m2, được bố trí 4 vị trí cho 4 máy bay trực thăng có thể hoạt động đồng thời. Khoang chứa máy bay có thể chứa 11 trực thăng săn ngầm SH-60K và trực thăng quét mìn MCH-101. Ngoài ra, trong khoang tàu còn được bố trí đầy đủ các trang thiết bị bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, phụ tùng, nhiên liệu dự trữ và các loại vũ khí chống ngầm và chống hạm dùng để cho máy bay trực thăng và hệ thống cần trục.

Khoang sinh hoạt gồm phòng ở, phòng hội họp dành cho sĩ quan chỉ huy cùng thủy thủ được bố trí ở phía trước tàu. Thiết kế của tàu lớp Hyuga cũng rất chú trọng đến chất lượng sinh hoạt của thủy thủ đoàn trên tàu. Phòng ở module hóa trên tàu có thiết kế các loại khác nhau gồm phòng 1 người, 2 người, 4 người, 6 người tùy theo cấp bậc, không gian sinh hoạt được quy hoạch sắp xết rất chi tiết. Các khoang của thủy thủ đoàn có thể so sánh được với các khoang hành khách của các tàu du lịch về mức độ thoải mái. Trong khu vực phòng ở của thủy thủ đoàn có các gường tầng nhỏ được lắp thành các block có 6 gường, các block được ngăn bằng các vách ngăn mỏng. Các nhà thiết kế cũng lắp đặt trên tàu một thư viện nhỏ với hàng nghìn đầu sách khác nhau, ngoài giờ trực chiến các thủy thủ đoàn và sỹ quan có thể đến đây tham khảo, bổ sung kiến thức cho mình hoặc đơn giản chỉ là thú vui đọc sách giết thời gian vì thực tế cuộc sống trên tàu rất tẻ nhạt, không có nhiều phương tiện giải trí. Rất nhiều thủy thủ JMSDF đã tự học trong quá trình công tác trên biển để thi lên các cấp sỹ quan chỉ huy cao hơn, một vài người lại sử dụng khoảng thời gian này cho việc tìm hiểu những kiến thức thuộc các ngành nghề khác để có kỹ năng xin việc sau khi rời quân ngũ.

Không thể thiếu được trên tàu đó là phòng giặt là, thủy thủ đoàn sẽ giặt quần áo theo lịch được xếp trước, tránh tình trạng lộn xộn, gây lẫn lộn quân trang. Ngoài quân phục bao gồm áo ngoài, quần ngoài và đồ lót, các thủy thủ được phép mang theo và sử dụng trên tàu các loại áo phông và quần cộc tối màu. Phòng phơi đồ ngay cạnh phòng giặt, vì không có ánh nắng chiếu vào phòng này nên phòng được lắp đặt hệ thống hút ẩm bằng quạt gió và đèn công suất cao để hong khô quần áo. Các máy bán hàng tự động cũng được lắp đặt với rất nhiều đồ ăn vặt và mì hộp các loại để phục vụ nhu cầu của các thủy thủ. Những đồ ăn vặt và đồ hộp này có hạn sử dụng khá lâu nên được dự trữ với số lượng lớn trên tàu, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu của binh lính trong các cuộc hành quân dài ngày trên biển. Trên tàu còn có hệ thống máy tính để bàn để phục vụ cho việc giải trí của các thủy thủ. Do đa phần đều là thủy thủ trẻ tuổi nên các máy tính ở đây dù không có mạng internet để sử dụng nhưng lúc nào cũng có sẵn khá nhiều game cho thủy thủ giải trí bằng hệ thống mạng nội bộ.

Phòng tập đa năng với nhiều loại máy tập hiện đại giúp thủy thủ đỡ "cuồng chân cuồng tay" khi phải sinh hoạt và làm việc trong một không gian chật trội suốt thời gian dài. Các máy chạy bộ luôn hoạt động hết công suất để phục vụ cho nhu cầu giải phóng năng lượng của các thủy thủ. Ngoài ra còn có các máy tập đạp xe, tạ nâng các loại, xà đơn và xà kép,v..v... để các binh lính nâng cao sức khỏe cũng như rèn luyện thể lực cho bản thân.

Phòng thông tin của tàu với nhân viên trực ban có nhiệm vụ đọc các thông tin về tình hình chính trị, xã hội của Nhật Bản cũng như của thế giới hàng ngày cho binh sỹ. Do đặc tính tách biệt hoàn toàn với đất liền để đảm bảo bí mật vị trí tàu nên các bản tin cập nhật thông tin rất được chú trọng để binh lính có thể cập nhật được tin tức từ trong đất liền sớm nhất có thể. Phòng bếp trên tàu có dự trữ khá nhiều đồ ăn đông lạnh, từ thịt cho tới rau củ quả. Nhà bếp hoạt động 24/7 để phục vụ cho 2 ca làm việc kéo dài 12 tiếng mỗi ngày, các thủy thủ sẽ có đồ ăn nóng phục vụ bất cứ lúc nào họ muốn. Phòng ăn cũng như đồ ăn của sỹ quan được chuẩn bị riêng. Khẩu phần ăn của thủy thủ Nhật Bản thường mang đậm chất truyền thống và cá là một trong những thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn của người Nhật nói chung và binh sỹ JMSDF nói riêng.

Ngoài ra về khả năng đảm bảo hậu cần, trên tàu cũng được trang bị một cơ sở y tế tương đương với một bệnh viện dã chiến cấp sư đoàn hoặc quân đoàn, hoặc bệnh viện đa khoa của một thành phố 250.000 dân, đồng bộ cả nha khoa, chẩn đoán, chuyên gia phẫu thuật và các khả năng y tế, vệ sinh thực phẩm và các khả năng tâm lý học. Một hệ thống điều khiển y học từ xa dựa trên hệ thống vệ tinh cho phép thực hiện các phẫu thuật chuyên ngành phức tạp.

Cơ sơ y tế này có diện tích 900 m2 cung cấp 20 phòng và 69 giường bệnh, trong đó 7 phòng để chăm sóc đặc biệt. Có hai phòng mổ với đầy đủ phòng chụp X quang và siêu âm số, và nó có thể được gắn với một máy quét CT điều khiển từ xa. Kho thuốc trên tàu có đủ số lượng thuốc cho nhiều loại bệnh khác nhau từ cảm cúm, sốt cho tới các loại kháng sinh liều cao, thuốc giảm đau, thuốc an thần. Đặc biệt các kho thuốc trên các tàu chiến của JMSDF thường có lượng dự trữ thuốc giảm đau dạng gây nghiện như Morphin rất cao, đề phòng trường hợp các thủy thủ bị thương nặng trong khi giao tranh.

Ngoài ra còn có 50 giường bệnh được đặt trong khoang chứa máy bay trực thăng để tăng cường năng lực của bệnh viện trong trường hợp khẩn cấp.

Hệ thống vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống vũ khí trên tàu lớp Hyuga cũng đơn thuần chỉ là các hệ thống phòng vệ bao gồm w hệ thống phòng không tầm gần (CIWS) Mk-15 Phalanx, 2 cụm phóng ngư lôi với 3 ống phóng 324mm HOS-303 và hệ thống phóng thẳng đứng 16 ống phóng Mk-41 mod 22 dùng để phóng tên lửa hải đối không tầm gần RIM 162 ESSM và tên lửa chống ngầm RUM-139 VL ASROC.

Các binh sĩ kỹ thuật Hải quân Liên bang Mỹ nạp đạn tên lửa RIM 162 ESSM lên hệ thống phóng Mk-41 của tàu khu trục USS McCampbell (DDG-85).

Tên lửa hải đối không RIM-162 ESSM[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa hải đối không RIM-162 ESSM được Tập đoàn Raytheon (Mỹ) hợp tác cùng 10 nước châu Âu phát triển dựa trên cơ sở tên lửa hải đối không RIM-7 Sea Sparrow từ cuối những năm 1990. RIM-162 là hệ thống tên lửa phòng không tầm ngắn - tầm trung tác chiến đa mục tiêu, trong mọi điều kiện thời tiết, được thiết kế để tham gia các nhiệm vụ phòng không trên hạm, tiêu diệt máy bay chiến đấu, trực thăng và các phương tiện bay không người lái của đối phương. Ngoài ra, một đặc điểm quan trọng của RIM-162 là hệ thống này có khả năng phòng thủ rất cao khi hoạt động trong đội hình tác chiến của một hạm đội. Tất cả các mối đe dọa như tên lửa chống hạm, tên lửa hành trình, bom thông minh... đều là mục tiêu đánh chặn của RIM-162.

Tên lửa RIM-162 có kết cấu khá gọn và bao gồm 4 bộ phận: đầu trên là đầu dò radar chủ động xung Doppler với chóp nhọn bảo vệ ở đầu hoạt động trên dải tầng 10 GHz đến 20 GHz; bộ phận thứ hai là đầu đạn nổ phân mảnh (HE) 39 kg với ngòi nổ vô tuyến cận tiếp xúc; bộ phận thứ ba là động cơ nguyên liệu rắn Mk-134 mod 0 giúp RIM-162 có thể đạt vận tốc lên đến Mach 4; bộ phận cuối cùng là đuôi tên lửa dùng để giữ cho tên lửa bay ổn định, phần trên của đuôi được lắp đặt 4 bốn cánh điều hướng có thể tháo lắp và 4 cánh ổn định được lắp ở gần giữa thân. Thiết kế này được giới thiệu là giúp kiểm soát tên lửa tốt hơn trong điều kiện tốc độ cao. RIM-162 có có khối lượng 280 kg, chiều dài 3,66 m; đường kính 0,252 m; tầm bắn 20 km với mục tiêu là tên lửa hành trình đối hạm bay thấp và lên đến 50 km với mục tiêu cỡ lớn như máy bay chiến đấu, tầm cao tối đa là 9 km, tốc độ bắn giữa hai loạt cách nhau là 2 giây.

Nhận diện mục tiêu sẽ được nạp vào tên lửa trước khi phóng, với dữ liệu nhận dạng có thể được cung cấp bởi radar hoặc các hệ thống quan sát quang học. Sau khi được phóng thẳng đứng, RIM-162 được dẫn bằng quán tính độc lập giai đoạn đầu theo thông tin được cung cấp trước đó, ở giai đoạn 2 tên lửa liên tục cập nhật thông tin dữ liệu mục tiêu từ tàu phóng qua kênh liên kết để hiệu chỉnh đường bay và trong giai đoạn cuối nó sẽ kích hoạt radar chủ động để xác định mục tiêu (phương thức “bắn và quên”). Hệ thống điện tử sẽ điều chỉnh nhảy tần số của radar nếu thấy có hiện tượng bị nhiễu và nếu không tìm thấy mục tiêu trong một khoảng thời gian tên lửa sẽ tự hủy hay nhận lệnh tự hủy từ bên ngoài. Việc sử dụng đầu nổ phân mảnh có định hướng giúp điều chỉnh hướng nổ của đầu đạn dựa theo vị trí của mục tiêu trong radar với các tính toán hướng di chuyển của mục tiêu và sẽ phát nổ khi tiến lại gần trong một khoảng nhất định.[1]

Tên lửa chống ngầm RUM-139 VL-ASROC

Tên lửa chống ngầm RUM-139 VL ASROC[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa chống ngầm  RUM-139 VL-ASROC được Tập đoàn Lockheed Martin (Mỹ) phát triển vào năm 1983 và chính thức chấp nhận đưa vào trang bị năm 1993. RUM-139 VL-ASROC là loại tên lửa chống ngầm có hai tầng động cơ phản lực nhiên liệu rắn, động cơ tầng thứ nhất là động cơ tăng tốc lấy độ cao, động cơ tầng thứ hai là động cơ hành trình nhiên liệu rắn.

RUM-139 VL ASROC có chiều dài 4,5m, đường kính thân 0,38m, trọng lượng 820 kg và đạt tầm bắn 28 km. Tên lửa mang một quả ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ Mk-46.

Khi có thông tin phát hiện tọa độ khu vực hoạt động của tàu ngầm đối phương từ hệ thống radar, các thông tin, dữ liệu về tọa độ mục tiêu, quỹ đạo đường đạn sẽ được truyền tải đến hệ thống máy tính điều khiển của tàu. Từ bàn điều khiển, các binh sĩ sẽ tiến hành triển khai các hoạt động chuẩn bị tên lửa, nạp dữ liệu mục tiêu vào bộ nhớ máy tính tên lửa và phóng tên lửa. Hệ thống dẫn đường quán tính được sử dụng khi bay tiếp cận vị trí của mục tiêu trong cơ sở dữ liệu  Ở một vị trí định sẵn trên quỹ đạo đường bay, ngư lôi sẽ tự tách khỏi tên lửa và rơi xuống biển bằng dù hãm, việc này sẽ giúp giảm thiểu tối đa âm thanh khi rơi xuống nước. Sau khi cắt dù, ngư lôi tự kích hoạt bộ phận tự dẫn để thực hiện hoạt động tìm kiếm và tấn công mục tiêu. Điểm mạnh của tên lửa này là sử dụng tốc độ cao của tên lửa để nhanh chóng tiêu diệt tàu ngầm khi nó bị phát hiện. RUM-139 VL ASROC thường sử dụng cơ chế bắn loạt nhiều tên lửa về phía khu vực có tàu ngầm nên xác suất tiêu diệt mục tiêu rất cao. Ngoài ra, nó cũng có khả năng tự hủy sau một thời gian nếu tìm không thấy mục tiêu.

Hệ thống chỉ huy và thông tin liên lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mistral có thể dùng làm tàu chỉ huy và điều khiển với một trung tâm chỉ huy rộng 850 m2, có thể tiếp nhận 150 nhân viên công tác. Thông tin từ các thiết bị thu nhận của tàu được tập trung vào hệ thống SENIT (Hệ thống thông tin chiến thuật dùng cho Hải quân), một nhánh của Hệ thống dữ liệu chiến thuật hải quân (NTDS) của hải quân Mỹ.

Hệ thống SENIT 9 dùng trên tàu Mistral dựa trên radar 3 chiều đa chức năng MRR3D-NG của hãng Thales, hoạt động trên băng tần C và tích hợp các khả năng IFF (nhận dạng ta, địch). SENIT 9 cũng được liên kết với các định dạng trao đổi dữ liệu của NATO thông qua các thiết bị kết nối.

Trong chế độ giám sát bề mặt, MRR-3D NG có thể phát hiện các mục tiêu tầm thấp và trung bình ở các khoảng cách tới 140 km và các mục tiêu ở khoảng cách tới 180 km ở chế độ cảnh giới không gian 3 chiều tầm xa; trong chế độ tự vệ, nó có thể phát hiện và theo dõi mối đe dọa bất kỳ trong vòng bán kính 60 km.

Về thông tin liên lạc, tàu Mistral dùng hệ thống vệ tinh Thales Syracuse III, dựa trên các vệ tinh Syracuse 3-A và Syracuse 3-B của Pháp, chúng đảm bảo cung cấp 45% lượng thông tin liên lạc tần số siêu cao của NATO.

Dẫn động[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời của tàu đổ bộ lớp Mistral đã đánh dấu bước đột phá về mặt công nghệ trong chế tạo tàu chiến. Mistral là tàu hỗ trợ đổ bộ đầu tiên của hải quân Pháp mà toàn bộ hệ thống trên tàu hoạt động hoàn toàn bằng điện và được trang bị 2 bộ dẫn động phương vị điện hình hạt đậu, có khả năng thích ứng với bất kỳ góc độ nào. Công nghệ dẫn động này tạo cho các tàu có khả năng linh hoạt đáng kể, cũng như giải phóng không gian thông thường dành cho máy móc và các trục cánh quạt (chân vịt).

Hai trong số các máy phát điện 16 V32

Việc sử dụng các POD là một đột phá mới (thường được dùng trong chế tạo tàu chở khách và tàu thương mại), nhờ nó mà tàu Mistral với vận tốc khá khiêm tốn là 19 hải lý/h vẫn có thể di chuyển dễ dàng trong điều kiện sóng to, gió lớn.

Hệ thống máy phát điện gồm 3 máy 16V32 và một máy 18V200 chạy diesel cung cấp công suất 20.8 MW.

Thủy thủ đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy thủ đoàn của tàu được biên chế 160 người. Một hành trình trên biển thực hiện nhiệm vụ kèm theo vận chuyển quân và trang bị điển hình mất khoảng 2 đến 3 tuần lễ. Tàu Mistral và Tonnerre mang đủ hàng hóa cho thủy thủ đoàn và 450 quân trong 45 ngày giữa các đợt tiếp tế. Tốc độ tối đa là 19 hải lý/giờ và tầm hoạt động là 11.000 km ở tốc độ 14 hải lý / giờ.

Thông số kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

- Chiều dài: 199m

- Chiều rộng: 32m

- Mớn nước: 6.2m

- Trọng tải tối đa: 21,300 tấn

- Tốc độ: 19 hải lý /giờ

- Máy phát điện: 3 máy phát chạy diesel 16 V32 (6,2 MW) + 1 máy phát phụ trợ chạy diesel 18V200 (3 MW)

- Động cơ đẩy: 2 động cơ điện (2 × 7 MW) dẫn động các chân vịt 2x5

- Phạm vi hoạt động: 10.800 km (5.800 hải lý) tại tốc độ 18 hải lý / giờ (33 km / h), 19.800 km (10.700 hải lý) tại 15 hải lý /giờ

- Chuyên chở phương tiện: 4 sà lan đổ quân CTM, 2 tàu đệm không khí (LCAC), 59 xe (bao gồm cả 13 xe tăng Leclerc) hoặc 1 tiểu đoàn 40 xe tăng Leclerc hạng nặng.

- Thủy thủ đoàn: 160

- Chở quân: 450 (có thể lên 900 trong thời gian ngắn)

- Hệ thống thu nhận và xử lý: Radar cảnh giới MRR3D-NG, radar dẫn đường DRBN-38A, 2 hệ thống điều khiển hỏa lực

- Hỏa lực: 2 tổ hợp tên lửa phòng không MBDASimbad, 2 tổ hợp pháo phòng không hải quân Breda-Mauser 30mm, 4 súng máy 12,7mm Browning M2-HB.

- Máy bay: 16 trực thăng hạng nặng hoặc 35 máy bay trực thăng hạng nhẹ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]