Mistral gagnant (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
"Mistral gagnant"
Đĩa đơn của Renaud
từ album Mistral gagnant
Mặt AMistral gagnant
Mặt BLe Retour de la Pépette
Phát hành1986
Định dạngĐĩa đơn 7", 45 rpm
Thu âm1985
Thể loạichanson
Thời lượng2:45
Hãng đĩaVirgin Records
Sáng tácRenaud Séchan, Franck Langolff
Sản xuấtJean-Philippe Goude
Thứ tự đĩa đơn của Renaud
"Baby-Sitting Blues"
(1986)
"Mistral gagnant"
(1986)
"Jonathan"
(1988)
Video âm nhạc
"Mistral gagnant" của Renaud trên YouTube

"Mistral gagnant" là ca khúc chủ đề trong album cùng tên phát hành năm 1985, Mistral gagnant, của nam ca sĩ người Pháp Renaud. Trong bài hát, Renaud kể với con gái Lolita Séchan về tuổi thơ của mình và nhận ra rằng thời gian sẽ làm lu mờ những kí ức về tiếng cười thuở nhỏ của con gái ông. Chủ đề lớn này, kết hợp với phần âm nhạc đơn giản đã giúp bài hát trở thành một trong những ca khúc kinh điển giữa những bài hát "yếu mềm" của Renaud.

Bối cảnh và lịch sử bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

"Mistral gagnant" là một loại kẹo trúng thưởng nổi tiếng trong những năm 1970. Một vài người trong số những người chơi sẽ là người chiến thắng (gagnant) và họ có thể lấy thêm một chiếc kẹo nữa mà không phải trả tiền. Vào thời điểm ghi âm bài hát này, hay khi Renaud đến tuổi trưởng thành, loại kẹo này không còn được bày bán.

Trong bài hát này, nam ca sĩ nói về những kỉ niệm và về những viên kẹo khi ông còn nhỏ. Ca khúc thấm đầy sự u sầu của ông, thể hiện qua những kí ức về những chiếc kẹo, thứ mà lúc này đã biến mất theo thời gian mà không thể khôi phục trở lại (Mistral gagnant, Coco Boer, Roudoudou, Car en sac, Minto). Ca khúc được viết dành cho con gái ông Lolita.[1]

Renaud cho biết ông chưa bao giờ có ý định đưa bài hát vào album Mistral gagnant. Ông giải thích rằng lời bài hát quá mang tính cá nhân và có thể sẽ không gây được hứng thú cho công chúng. Khi gọi điện cho vợ ông, bà Dominique, từ phòng thu ở Los Angeles khi đang ghi âm album, ông đã hát cho bà nghe một số phần của ca khúc ở ngay trên điện thoại. Sau khi vợ ông nghe được, bà trở nên yêu mến ca khúc và đe dọa ông rằng: "Nếu ông không thu âm bài hát này, tôi sẽ bỏ ông...".[2]

Tháng 5 năm 2015, theo một cuộc thăm dò ý kiến của BVA, bài hát được bình chọn là "ca khúc yêu thích của người Pháp", đứng trên "Ne me quitte pas" của Jacques Brel và "L'Aigle noir" của Barbara.[3][4]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Mặt A: "Mistral gagnant" (2:45)
  2. Mặt B: "Le retour de la pépette" (3:51)

Các bản hát lại, lẫy mẫu và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát đã được thể hiện lại bởi nhiều nghệ sĩ. Một số phiên bản hát lại tiêu biểu gồm:

Lấy mẫu bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Ca sĩ nhạc rap người Pháp Booba đã hai lần sử dụng các phần lấy mẫu từ "Mistral gagnant" cho hai bài hát của hai album khác nhau. Năm 2002, anh sử dụng một phần lấy mẫu trong bài hát "Le bitume avec une plume" nằm trong album đầu tay Temps mort. Album đạt đến vị trí á quân trên bảng xếp hạng album của Pháp. Sau đó, anh tiếp tục sử dụng một phần lấy mẫu cho bài hát "Pitbull" trong album Ouest Side phát hành năm 2006. Album đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng album của Pháp.

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc của Renaud là cảm hứng cho tựa đề của bộ phim tài liệu tiếng Pháp Et les mistrals gagnants của Anne-Dauphine Julliand, công chiếu vào năm 2017.

Phiên bản của Cœur de pirate[sửa | sửa mã nguồn]

"Mistral gagnant"
Đĩa đơn của Cœur de pirate
từ album La Bande à Renaud
Phát hành2014
Định dạngTải kỹ thuật số
Thu âm2013-2014
Thời lượng3:04 (phiên bản trong album)
Hãng đĩaMercury
Sáng tácRenaud Séchan
Sản xuấtDominique Blanc-Francard, Alain Lanty

Vào năm 2014, trong album tri ân đến Renaud có tựa đề La Bande à Renaud, nữ ca sĩ Cœur de pirate đã thể hiện lại "Mistral gagnant". Phiên bản của cô đạt đến vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạng đĩa đơn của SNEP, đồng thời cũng trở thành một hit tại Bỉ.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản gốc của Renaud[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng tuần (2014) Vị trí
cao nhất
Pháp (SNEP)[5] 102

Phiên bản của Cœur de pirate[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng tuần (2014) Vị trí
cao nhất
Bỉ (Ultratop Wallonia)[6] 17
Pháp (SNEP)[7] 13

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lecœuvre, Fabien. Le petit lecœuuvre illustré (bằng tiếng Pháp) (ấn bản 2012). Éditions du Rocher. tr. 139. 
  2. ^ Éric Guéret, Didier Varrod, Renaud, le Rouge et le Noir, phim tài liệu tiếng Pháp, 2002.
  3. ^ Marine Poyer (30 tháng 5 năm 2015). Mistral Gagnant de Renaud, chanson préférée des Français »”. elle.fr (bằng tiếng Pháp). Elle. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. 
  4. ^ Tuấn Thảo (6 tháng 6 năm 2015). “Mistral Gagnant, ca khúc yêu chuộng nhất của người Pháp”. vi.rfi.fr (bằng tiếng Pháp). RFI. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. 
  5. ^ Lescharts.com: Renaud - "Mistral gagnant" song page
  6. ^ Ultratop.be/fr/: Cœur de pirate - "Mistral gagnant" song page
  7. ^ Lescharts.com: Cœur de pirate - "Mistral gagnant" song page