Lara Fabian

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lara Fabian
Lara Fabian 2015.jpg
Lara Fabian năm 2015
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Lara Sophi Katy Crokaert
Sinh 9 tháng 1, 1970 (48 tuổi)
Etterbeek, Bỉ
Thể loại
Nghề nghiệp Ca sĩ, người viết bài hát, nhạc sĩ, diễn viên
Nhạc cụ Giọng hát, piano, bàn phím
Năm hoạt động 1986–hiện nay
Hãng đĩa Polydor
Sony Music
Universal Music Group
Warner Music France
Website larafabian.com

Lara Sophi Katy Crokaert (sinh ngày 9 tháng 1 năm 1970), hay được biết điến là Lara Fabian, là một ca sĩ người Canada-Bỉ. Cô đã bán được hơn 13 triệu bản thu trên toàn cầu[1][2][3] và là một trong số những nghệ sĩ người Bỉ bán đĩa chạy nhất mọi thời đại.

Cô sinh ra ở Etterbeek, Brussels; cha cô là một người Bỉ và mẹ cô là người Silicia. Từ năm 1995, cô đã sở hữu quốc tịch Canada, bên cạnh quốc tịch gốc Bỉ của mình.[4]

Vào thời điểm năm 2015, cô sống tại tỉnh Walloon Brabant của Bỉ, một tỉnh ở sát Brussels. Sau đó cô đã chuyển về Montreal. [5]

Thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Fabian là đứa con duy nhất của Pierre Crokaert, một người Flemish, và Luisa (tên đặt theo chồng là Fabian), một người Silicia bản địa. 5 năm đầu đời, cô sống tại thị trấn quê nhà của mẹ cô, Catania ở Silicia. Sau đó cô chuyển đến Ruisbroek gần Brussels, Bỉ. Tiếng Ý là ngôn ngữ đầu tiên cô được học.

Năm 1978, cha mẹ gửi cô vào Nhạc viện Hoàng gia Bỉ.[6] Cô bắt đầu học nhạc cổ điển, nhảy và học đàn piano từ rất nhỏ, và học nhạc chính thống từ năm lên 8 tuổi. Cô tự viết và trình bày các ca khúc của mình trong suốt 10 năm học nhạc chính thống. Các bài hát của Fabian chịu ảnh hưởng bởi lối đào tạo giọng hát kiểu cổ điển, và các nghệ sĩ đương thời như Barbra StreisandQueen.

Cái tên Lara được đặt theo tên của nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago. Nghệ danh của cô là một cách phát âm lái đi từ tên của một người bác, Fabiano.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

1986–1993: Buổi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm 1980, Fabian tham dự nhiều cuộc thi âm nhạc tại châu Âu và giành được một số giải thưởng. Cô phát hành đĩa đơn đầu tay, "L'Aziza est en pleurs" / "Il y avait" vào năm 1986. Cả hai bài hát đều được sáng tác bởi nhà soạn nhạc người Bỉ Marc Lerchs để thể hiện lòng thành kính với Daniel Balavoine.

Năm 1988, kênh truyền hình RTLLuxembourg mời Fabian đại diện cho quốc gia này trong cuộc thi Eurovision Song Contest lần thứ 33, tổ chức cùng năm tại Dublin, Ireland. Ca khúc tham dự chung kết của cô là một sáng tác của Jacques Cardona và Alain Garcia, với tựa đề "Croire" (Niềm tin). Ca khúc giúp cô đạt vị trí thứ 4 chung cuộc, trong khi Celine Dion, đại diện cho Thụy Điển, đã giành chiến thắng cuộc thi. Đĩa đơn trở thành một hit ở châu Âu, bán được gần 500.000 bản [cần dẫn nguồn]

Năm 1990, Fabian và cộng tác âm nhạc Rick Allison chuyển đến Montreal, Canada với mục tiêu phát triển sự nghiệp ở thị trường Bắc Mỹ.[7] Họ thành lập nhãn hiệu âm nhạc và công ty sản xuất riêng, Productions Clandestines.

Tháng 8 năm 1991, album đầu tay cùng tên trình bày bằng tiếng Pháp của cô, Lara Fabian, phát hành tại Canada và bán được hơn 100.000 bản trong 3 năm. Album được chứng nhận vàng vào năm 1993, và bạch kim ngay năm tiếp theo. Thành công của các đĩa đơn Dance-pop sôi động như "Le jour où tu partira", "Les murs", và "Qui pense à l'amour" giúp cho Fabian được quảng bá rộng rãi trên hệ thông phát thanh. Cô nhận được một vài đề cử tại lễ trao giải ADISQ năm 1993, và được bình chọn là ca sĩ hứa hẹn nhất của Québec.

1994–1996: Album đột phá: Carpe diem[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyến lưu diễn liên tục tại Québec đã giúp cho album phát hành năm 1994 của Fabian, Carpe diem, trở thành một bước đột phá trong sự nghiệp của cô. Album nhanh chóng nhận được chứng nhận Vàng chỉ sau 2 tuần từ ngày phát hành,[8] và sản sinh ra 3 đĩa đơn hit: "Tu t'en vas", "Si tu m'aimes", và "Leïla". Năm sau, album đã được chứng nhận 3× Bạch kim.

Fabian nhận được 2 giải Félix tại gala ADISQ năm 1995: Trình diễn tốt nhất của năm và Nữ nghệ sĩ của năm (hạng mục được khán giả bình chọn).

Năm 1996, Walt Disney Studios thuê Fabian lồng tiếng cho nhân vật Esmeralda trong phiên bản tiếng Pháp của bộ phim hoạt hình Thằng gù nhà thờ Đức Bà. Disney cũng đưa bài hát "Que Dieu aide les exclus", phiên bản tiếng Pháp của ca khúc "God Help The Outcasts" do Fabian thể hiện, vào album nhạc phim tiếng Anh, bên cạnh phiên bản của Bette Midler.

Từ năm 1995, Fabian sở hữu thêm quốc tịch Canada.[4]

1997–1999: Thành công toàn cầu: PureLive 1999[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của Carpe diem, Fabian kí hợp đồng với hãng thu âm Polydor của Pháp để phát hành một số album mới. Pure được phát hành vào tháng 6 năm 1997. Album này đã bán ra gần 2 triệu bản tại Pháp tính đến cuối năm 2015,[9] nhận được chứng nhận Bạch kim chỉ trong 2 tuần đầu tiên. Các đĩa đơn hit từ album gồm 3 đĩa đơn bán được trên 1 triệu bản: "Tout", "Je t'aime", "Humana", và bản quốc ca chống kì thị đồng tính luyến ái, "La Différence". Album thắng một giải Félix cho Album đại chúng của năm tại gala ADISQ năm 1997. Tại lễ trao giải Juno, album được đề cử ở hạng mục Album tiếng Pháp bán chạy nhất, còn Fabian nhận được đề cử cho hạng mục Nữ ca sĩ xuất sắc nhất.

Tháng 2 năm 1998, Fabian nhận giải thưởng Phát hiện của năm tại gala Victoires de la Musique. Cũng trong năm 1998, Polydor phát hành Carpe diem tại châu Âu. Tháng 11 năm 1998, cô tiếp tục nhận giải Félix ở hạng mục Nghệ sĩ ngoài Quebec được công nhận nhiều nhất. Tháng 12 cùng năm, cô được tạp chí Paris Match tặng danh hiệu Khải huyền của năm, và hình ảnh của cô được đưa lên trang bìa của tạp chí này.

Tháng 3 năm 1999, Fabian phát hành album trực tiếp đầu tiên trong sự nghiệp, có tựa đề Live. Album ra mắt ở vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng của Pháp, qua đó giúp cô có được hợp đồng ghi âm toàn cầu với Sony Music. Tháng 5 năm 1999, Fabian được vinh danh tại lễ trao giải World Music Awards tổ chức ở Monaco. Cô nhận giải Bản ghi âm bán chạy nhất năm 1998 cho album Pure. Tháng 7 năm 1999, với hơn 6 triệu bản ghi âm được bán ra trên toàn châu Âu, Polydor tái phát hành album đầu tay cùng tên của Fabian.

1999–2001: Mở rộng thành công đến Hoa Kỳ và Mỹ La-tinh: Lara Fabian[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 1999, Fabian ghi âm album tiếng Anh đầu tiên của cô cho hãng Sony, Lara Fabian, tại New York và San Francisco. Các bài hát được viết và sản xuất bởi Rick Allison và Dave Pickell, Walter Afanasieff, Glen BallardPatrick Leonard.

Album ra mắt ở vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard Heatseekers, đạt đến vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng album của Pháp và thứ hai trên bảng xếp hạng album của Bỉ. Ở phiên bản phát hành tại châu Á, Fabian hợp tác với ngôi sao nhạc pop người Mỹ-Đài Loan Leehom Wang trong bài hát "Light of My Life".

Bản dance-pop "I Will Love Again", đĩa đơn tiếng Anh đầu tiên của cô, giành vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard Hot Dance Music/Club Play, và đạt đến vị trí thứ 32 trên bảng xếp hạng US Billboard Hot 100, thứ 10 trên US Billboard Adult Contemporary, cũng như xuất hiện trên một số bảng xếp hạng toàn cầu, trong đó có bảng xếp hạng UK Singles Chart. Ca khúc đạt vị trí thứ 63 trên bảng xếp hạng này.[10] Bản ballad nối tiếp, "Love By Grace", cũng đạt được vị trí thứ 24 trên bảng xếp hạng US Billboard Adult Contemporary. Tháng 2 năm 2001, "Love By Grace" trở thành ca khúc chủ đề của cặp đôi chính trong vở kịch về cuộc sống đời thường, Laços de Família của Brazil, được truyền hình bởi TV Globo ở Brazil và Bồ Đào Nha. Trong vài tuần, ca khúc giữ vị trí quán quân trên hầu hết các trạm phát thanh ở Brazil và Bồ Đào Nha. Đĩa đơn thứ ba, ca khúc dance-pop "I Am Who I Am", phối lại bởi Hex Hector, không xuất hiện trên các bảng xếp hạng. Ở châu Âu, đĩa đơn "Adagio" đạt vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng đĩa đơn của Pháp, và thứ 3 trên bảng xếp hạng đĩa đơn của Bỉ.

Trong giai đoạn này, Fabian đã ghi âm một số ca khúc làm nhạc phim cho các bộ phim điện ảnh của Hollywood, bao gồm: "The Dream Within" cho nhạc phim của Final Fantasy: The Spirits Within, và "For Always" cho nhạc phim A.I. Trí tuệ nhân tạo. Album nhạc phim thứ hai gồm cả phiên bản hát đơn và phiên bản song ca với Josh Groban của "For Always".

2001–2004: Trở lại Pháp: Nue, Live 2002, En toute intimitéA Wonderful Life[sửa | sửa mã nguồn]

Nue (tạm dịch: Trần trụi), album tiếng Pháp thứ 4 của Fabian, phát hành vào mùa thu năm 2001 ở cả Quebec và Pháp. Album như một bản ghi chép lại những thăng trầm cảm xúc trong những năm sau thành công của album trước đó. Album lần lượt đạt vị trí quán quân và á quân trên bảng xếp hạng của Bỉ và Pháp, tuy nhiên không gây được ảnh hưởng tại Quebec. Album cũng được phát hành tại Tây Ban Nha và nằm trong top 10 của bảng xếp hạng vào mùa thu năm 2001. Đĩa đơn đầu tiên, phát hành vào mùa hè 2001, "J'y crois encore" đạt đến top 20 trên bảng xếp hạng của Pháp. Các đĩa đơn khác phát hành sau đó bao gồm "Immortelle", "Aimer Déjà" và đĩa đơn phát hành năm 2002 "Tu es mon autre" (một bản song ca với nghệ sĩ đồng huơng Maurane, được đề cử cho giải ca khúc của năm và nằm trong top 5 bảng xếp hạng Pháp).

Cũng trong năm 2001, cô hợp tác với David FosterVancouver Symphony Orchestra trong các bản ghi âm bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, và Anh-Pháp của ca khúc quốc ca của Canada, "O Canada", trong một chiến dịch quảng bá của chính phủ Canada. Năm 2002, Fabian tham gia ghi âm album nhạc cho World Cup 2002, với ca khúc "World at Your Feet", được viết và sản xuất bởi Gary Barlow.

Cuối năm 2002, Fabian phát hành album trực tiếp thứ hai, Live 2002, gồm các ca khúc từ chuyến lưu diễn gần nhất, cùng với một DVD ghi hình các buổi hòa nhạc tổ chức vào tháng 12 năm 2001 tại Rừng Quốc gia ở Bỉ và tại Le Zénith ở Paris.

Trong năm 2003, cô hoạt động đều đặn tại Casino de Paris mỗi đêm thứ hai, tổ chức những buổi hòa nhạc cho một số lượng nhỏ khán giả. Các buổi hòa nhạc được ghi lại và phát hành thành đĩa CD và DVD vào cuối năm 2003, với tựa đề En toute intimité.

Năm 2004, Fabian phát hành album tiếng Anh thứ hai, A Wonderful Life. Dự án không thành công về mặt thương mại, nhưng được giới phê bình đánh giá cao.[cần dẫn nguồn] Âm thanh tự nhiên trong album được hoàn thiện bởi nghệ sĩ ghi-ta người Pháp Jean-Félix Lalanne, các nhà sản xuất Desmond Child, Anders Bagge và đội sản xuất người Anh True North (gồm ca sĩ Gary Barlow của nhóm Take ThatElliot John Kennedy).

Đĩa đơn đầu tiên phát hành trên hệ thống các đài phát thanh là "The Last Goodbye" tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác (trừ Pháp). Tại Pháp, bài hát "No Big Deal" là đĩa đơn đầu tiên. Cả hai ca khúc đều không thành công và album không được quảng bá rộng rãi và bị hủy phát hành tại Hoa Kỳ. Tại Brazil, bài hát "I Guess I Loved You" đạt được thành công khiêm tốn, khi được đưa vào một chương trình phim đời sống thường nhật có tựa đề Senhora do Destino (tạm dịch: Định mệnh của cô ấy), một loạt phim truyền hình nổi tiếng tại Brazil. Nhờ vậy, bài hát cũng được biết đến tại Bồ Đào Nha, mặc dù không được phát hành hay quảng bá chính thức. Cũng trong năm 2004, Fabian chia tay với nhà sản xuất âm nhạc Rick Allison, đồng thời chấm dứt hợp tác âm nhạc với nhà sản xuất này.[11]

2005–2007: Định hướng âm nhạc mới: 9, Un regard 9 Live và con gái đầu lòng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian nghỉ ngơi vào năm 2004, Fabian trở lại với âm nhạc vào mùa xuân năm 2005 với album tiếng Pháp thứ 5, 9. Album được trình bày theo phong cách mới với sự nhẹ nhàng, yên bình và vui tươi, khác biệt hoàn toàn so với phong cách sâu lắng, kịch tích của các bản ghi âm thời kỳ trước đó. 9 bao gồm đĩa đơn hit "La Lettre", một bài hát mà Fabian đồng sáng tác với cộng sự mới của cô, Jean-Félix Lalanne, người đã cùng sản xuất 11 bài hát trong album. Các đĩa đơn khác gồm "Ne lui parlez plus d'elle", "Un Ave Maria", "Il ne manquait que toi" và bài hát thể loại phúc âm, "L'homme qui n'avait pas de maison".

Tháng 10 năm 2006, Fabian phát hành các CD và DVD của chuyến lưu diễn đồng hành với album 9, lấy tựa đề Un regard 9 Live và gồm bản ghi âm buổi hòa nhạc vào ngày 29 tháng 3 năm 2006 tại nhà hát Le Zénith ở Paris. CD gồm 15 bản biểu diễn trực tiếp và một ca khúc mới, "Aime", ghi âm tại một phòng thu ở Montreal.

Tháng 6 năm 2007, Fabian làm việc tại Rome và Los Angeles để ghi âm các ca khúc cho album phòng thu kế tiếp. Cùng lúc, đĩa đơn "Un Cuore Malato" (hợp tác với Gigi D'Alessio) đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng của Ý và thứ 16 trên bảng xếp hạng của Pháp. Tại Los Angeles, Fabian làm việc với Dave Stewart để thực hiện một album đa ngôn ngữ, gồm ca khúc bằng tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Ý và một số ngôn ngữ khác, dự định phát hành vào cuối năm 2008. Cũng trong năm 2007, Fabian cũng đến Québec để thực hiện một buổi hòa nhạc 2 đêm tại Olympia de Montreal. Tháng 10 cùng năm, cô trở thành khách mời bất ngờ trong buổi hòa nhạc của Gigi D'Alessio tại Olympia, Paris, Pháp. Ngày 20 tháng 11 năm 2007, Fabian sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Lou Pullicino.[12]

2008–2012: Toutes les femmes en moi và album đa ngôn ngữ Mademoiselle Zhivago[sửa | sửa mã nguồn]

Vài tháng sau khi sinh con đầu lòng, Fabian tổ chức một chuyến lưu diễn tại Ukraine, Nga và Hi Lạp. Cô cũng xuất hiện ở một số sự kiện trên truyền hình, như trong Quốc khánh lần thứ 60 của Israel, sự kiện mà Fabian biểu diễn một số ca khúc tiếng Do Thái và song ca với ca sĩ người Israel Noa.

Trong năm 2008, Fabian trở về Bỉ để chuẩn bị ghi âm một album tiếng Pháp với nghệ sĩ piano Mark Herskowitz. Album có tựa đề Toutes les femmes en moi, chủ yếu được ghi âm tại Montreal, phát hành vào tháng 5 năm 2009. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Soleil, Soleil", là một bản hát hát lại ca khúc của Nana Mouskouri. Đĩa đơn thứ hai là "Toutes les Femmes en moi", ca khúc gốc duy nhất trong album. Sau đó, Fabian phát hành album tiếng Anh Every Woman in Me, gồm những bản hát lại các bài hát của các nghệ sĩ nổi tiếng.

Trong nửa đầu năm 2010, Fabian tổ chức một chuyến lưu diễn ở châu Âu, với các điểm dừng chân tại Pháp, Thụy Sĩ và Bỉ, biểu diễn hầu hết các bài hát trong Toutes Les Femmes En Moi cùng với một số ca khúc cổ điển và ca khúc người hâm mộ yêu thích. Cô cũng biểu diễn tại Đông Âu theo phong cách accoustic (chỉ hát với piano), và bổ sung vào danh sách biểu diễn một số bản ghi âm tiếng Anh trong album Every Woman in Me. Tháng 9 năm 2010, cô phát hành Toutes Les Femmes En Moi tại Québec. Cô cũng tham gia ghi âm album Nuit Magique với ca sĩ người Canada Coral Egan.

Cuối năm 2010, Fabian phát hành một album chủ đề đa ngôn ngữ tại Nga và Ukraine, với tựa đề Mademoiselle Zhivago (tạm dịch: Cô Zhivago). Album gồm 11 ca khúc thể hiện bằng những ngôn ngữ khác nhau, được sáng tác bởi nhạc sĩ người Nga Igor Krutoy. Album là những câu chuyện của một người phụ nữ trải nghiệm những kiếp sống qua vài năm và vài thế kỷ. 11 video âm nhạc cho từng bài hát, kết hợp lại tạo thành một bộ phim dài hoàn chỉnh, được sản xuất và đạo diễn bởi nhà sản xuất phim người Ukraine Alan Badoev. Album gồm một CD và một DVD, phát hành lần đầu vào tháng 10 năm 2010 tại Ukraine, và vào tháng 11 tháng Nga.

Các bài hát được sáng tác bởi Fabian cùng Igor Krutoy, bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga. Fabian đã giới thiệu một trong số các ca khúc vào năm 2009, trong lễ hội âm nhạc New Wave Festival tại Latvia, với ca khúc "Demain n'existe pas". Sau đó, năm 2010, cô trở lại sân khấu này, trình diễn những ca khúc mới của album. Cô quảng bá cho album này ở cả hai quốc gia, trên cả truyền hình, kết hợp với việc biểu diễn trực tiếp một loạt buổi hòa nhạc giới thiệu các ca khúc mới đến công chúng Đông Âu. Fabian cũng là khách mời biểu diễn trong chương trình X Factor của Ukraine vào ngày 30 tháng 10, thể hiện các bài hát "Mademoiselle Hyde", "Demain N'Existe Pas" của album mới, và ca khúc cổ điển "Adagio". Năm 2012, cô ghi âm "Ma Solitude", một ca khúc hợp tác với nam ca sĩ người Hi Lạp George Perris, trong album Un Souhait của anh.

2013–2015: Le Secret, EssentialMa vie dans la tienne[sửa | sửa mã nguồn]

Fabian phát hành album tiếng Pháp thứ sáu, Le Secret vào ngày 17 tháng 4 năm 2013, gồm 17 ca khúc mới. Cùng ngày, cô biểu diễn các bài hát mới tại Théâtre de Paris. Album ra mắt ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng của Pháp. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Deux ils, Deux elles", phát hành vào ngày 20 tháng 2 năm 2013. Bài hát nói về tình yêu của hai người đàn ông và hai người phụ nữ, truyền đạt thông điệp về sự khoan dung và sự chấp nhận với cộng đồng LGBT – tương tự như ca khúc "La Différence".

Đầu năm 2014, lịch lưu diễn và ghi âm của Fabian đã bị hủy bỏ sau khi cô gặp chấn thương tai do một sự cố âm thanh.[1][2] Tháng 8 cùng năm, cô phát hành một ca khúc hợp tác với nghệ sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ Mustafa Ceceli. Bản nhạc có tựa đề "Make Me Yours Tonight", viết bởi Anthony James và Yiorgos Bellapaisiotis, được phát hành thành các EP phiên bản tiếng Anh và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ ("Al Götür Beni"), cùng với một phiên bản accoustic phát hành bổ sung. Đĩa đơn đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng đĩa vật lý tại Thổ Nhĩ Kỳ, và vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng kỹ thuật số. Một số bản phối lại của "Make Me Yours Tonight" được phát hành thành EP trên toàn cầu vào tháng 4 năm 2015, trong loạt album tuyển tập, lấy tên là Selection. EP đạt vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng iTunes Dance Albums của Pháp, và thứ 5 trên bảng xếp hạng iTunes Album Chart của Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngày 14 tháng 12 năm 2014, trong chương trình L'Arena, phát sóng trên kênh truyền hình Rai 1 của Ý, dẫn chương trình Massimo Giletti và khách mời Carlo Conti đã hé lộ[13] danh sách các nghe sĩ trình diễn tại Nhạc hội Sanremo lần thứ 65. Fabian nằm trong danh sách 20 ca sĩ "lớn" (chính). Đây là lần thứ hai cô xuất hiện trên sân khấu Ariston (kể từ lần xuất hiện trong vai trò khách mời năm 2007 cùng với Gigi D'Alessio) và là lần đầu tiên cô xuất hiện trong với vị trí của thí sinh hát đơn. Trong một số cuộc phỏng vấn, cô nói rằng sẽ dành tặng phần trình diễn cho người mẹ của mình. Fabian gọi bài hát cô gửi đến chương trình là "một bài thánh ca nhẹ nhàng và say mê".

Trong chương trình phát sóng vào buổi tối này 10 tháng 2 năm 2015, Fabian đã biểu diễn đĩa đơn mới có tên gọi "Voce" dành cho thị trường Ý.[14] Ca khúc này được đưa vào album tuyển tập mới có tựa đề Essential, phát hành riêng tại quốc gia này bởi Warner Italy.[15]

Trong tối ngày 12 tháng 2 năm 2015, Fabian biểu diễn ở cùng sân khấu ca khúc "Sto male",[16] một phiên bản bằng tiếng Ý của bài hát "Je Suis Malade" do Ornella Vanoni biên soạn.[17] Đây là một đêm thi nhỏ của Sanremo dành cho các phiên bản hát lại, và Fabian cuối cùng đã thất bại trước Nek và bài hát "Se telefonando" nổi tiếng của nghê sĩ Mina.

Tối ngày 13 tháng 2, cô biểu diễn lại bài hát "Voce",[18] trước khi nhận thất bại chung cuộc trong cuộc thi,[19] điều mà cô đã dự trù từ khi mới tham gia cuộc thi.[20] Một bài viết trên một ấn bản địa phương của Nhac hội San Remo, có tựa đề "Tạm biệt các nghệ sĩ ngoại quốc ở Sanremo", viết bởi Erika Cannoletta, cho rằng sự thiếu trong dụng tài năng và các vấn đề chính trị ít người biết tới phía sau cuộc thi là hai trong nhiều lí do dẫn đến việc nghệ sĩ bị loại. Trước đó, khán giả và giới báo chí Ý tỏ ra khá lạnh nhạt về Fabian, đặc biệt về danh tiếng của cô ở quốc gia này. Trong một bài viết có phần cay độc và gây tranh cãi có tựa đề "Sanremo 2015, Lara Fabian là ai? Một nghệ sĩ quốc tế mà không ai biết đến",[21] nhà văn-nhà phê bình âm nhạc Michele Monina (của Il Fatto Quotidiano) tỏ ra nghi ngờ về danh tiếng, sự nghiệp và chất lượng của nữ ca sĩ, kéo theo một cuộc tranh cãi sôi nổi trong mục bình luận.

Ngày 15 tháng 2, cô trình diễn lần cuối cùng trên sân khấu Domenica In của kênh Rai 1, thu hut sự chú ý rộng rãi. Fabian trở lại với chuyến lưu diễn Greatest Hits Tour, để hỗ trợ cho sản phẩm mới phát hành, bắt đầu từ ngày 21 tháng 2 năm 2015 với việc trình diễn sân vận động Nokia, Tel Aviv-Jaffa, Israel.[22]

Tháng 11 năm 2015, Lara phát hành album phòng thu thứ 9, có tựa đề Ma vie dans la tienne (My Life In Yours), bao gồm các bài hát cô đồng sáng tác với David Gategno và Elodie Hesme. Album này được phát hành dưới giấy phép của Warner Music France, bao gồm các đĩa đơn "Quand je ne chante pas", "Ma vie dans la tienne", "L'oubli" và "Ton désir". Album được chứng nhận Bạch kim tại Pháp, Vàng tại Bỉ, và đã bán được hơn 150.000 bản trên toàn cầu.

2016–nay: CamouflagePapillon[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2016, Fabian bắt đầu thu âm một album tiếng Anh mới với dự định phát hành vào năm 2017, lấy tựa đề là Camouflage (Ngụy trang), với đội ngũ sản xuất âm nhạc người Thụy Điển–Hoa Kỳ. Album gồm 12 bài hát và có sẵn để đặt trước vào ngày 4 tháng 8 năm 2017. Đĩa đơn đầu tiên, "Growing Wings", được phát hành cùng ngày. Đĩa đơn thứ hai có tựa đề "Choose What You Love Most (And Let It Kill You)." Chuyến lưu diễn Camouflage World Tour khởi động tại Miami, Hoa Kỳ vào ngày 2 tháng 2 năm 2018. Fabian đã tổ chức 40 buổi hòa nhạc xuyến suốt chuyến lưu diễn, và kết thúc với buổi diễn cuối cùng tại Paris, Pháp, vào tháng 6 năm 2018.

Tháng 9 năm 2018, Fabian thông báo về việc phát hành đĩa đơn mới "Papillon", được viết và sáng tác bởi Fabian, Moh DenebiSharon Vaughn.[23] Đĩa đơn được phát hành vào ngày 5 tháng 10 năm 2018. Đây là đĩa đơn đầu tiên từ album thứ 14 có cùng tựa đề của nữ ca sĩ, được lên lịch phát hành vào tháng 2 năm 2019.[24]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Fabian là một giọng nữ cao trữ tình với âm vực trải dài khoảng 3 quãng tám, từ nốt C3 đến nốt G♯6 trong các màn biểu diễn trực tiếp.[25]

Fabian cũng là một nghệ sĩ đa ngôn ngữ, với khả năng nói thành thạo tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý và tiếng Anh. Cô đã từng hát bằng các tiếng Azerbaijan, Đức, Hi Lạp, Do Thái, Bồ Đào Nha, Nga, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Sự nghiệp sáng tác và diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Fabian đã viết nhạc cho một số nghệ sĩ khác, như các ca sĩ người Pháp Chimène Badi, Nolwenn LeroyMyriam Abel. Cô cũng sáng tác cho Daniel Lévi và được cho là hiện đang làm việc với một cựu thí sinh từ chương trình "Nouvelle Star 3" có tên Roland. Cô từng thường xuyên tán dương giọng hát và tài năng của nữ ca sĩ thành công Amel Bent, người cũng từng là thí sinh của chương trình này. Cô đã viết bài hát "Dis-moi comment t'aimer" cho nam ca sĩ người Hy Lạp George Perris trong album Un Souhait. Ca khúc "Imaginer" trong album Dream with Me của Jackie Evancho ban đầu được Fabian và người viết bài hát Walter Afanasieff sáng tác bằng tiếng Anh với tựa đề "Broken Vow". Họ đã viết lại ca khúc này với phần lời bài hát bằng tiếng Pháp dành riêng cho Evancho. Ý nghĩa của bài hát lúc đầu (về một tình yêu buồn) đã được thay đổi hoàn toàn trong phiên bản tiếng Pháp, trở thành một giấc mơ về thế giới tươi đẹp mà không có chiến tranh và nghèo đói.

Năm 2004, Fabian tham gia vào bộ phim De-Lovely của MGM. Trong đó, cô biểu diễn các bài hát "Another Openin', Another Show" (với dàn bè) và "So in Love" (cùng với Mario Frangoulis) từ vở nhạc kịch Kiss Me, Kate của Cole Porter.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Album tuyển tập[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2010: Best of Lara Fabian
  • 2011: Je me souviens
  • 2015: Essential (tại Ý và Hoa Kỳ)
  • 2015: Selection (toàn cầu)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải Etoile Cherie FM
    • 2005 – Ngôi sao nữ xuất sắc nhất
  • Giải Felix
    • 1995 – Chương trình xuất sắc nhất – Người viết nhạc/ Ca sĩ
    • 1995 – Nữ ca sĩ của năm
    • 1997 – Album nổi tiếng của năm – Pure
    • 1998 – Nghệ sĩ xuất sắc nhất ngoài khu vực Quebec
    • 2000 – Nghệ sĩ Quebec xuất sắc nhất ở ngôn ngữ khác tiếng Pháp
  • Giải IFPI Platinum Europe
    • 1999 – Giải thưởng cho doanh số vượt 2 triệu đơn vị
  • Victoires de la Musique
    • 1998 – Khải huyền của năm
  • Women to Women Without Borders
    • 2000 – Huy chương Vàng
  • Giải World Music Award
    • 1999 – Nghệ sĩ ghi âm Benelux có doanh số cao nhất năm
    • 2001 – Nghệ sĩ ghi âm Benelux có doanh số cao nhất năm
  • Đề cử của giải Juno
    • 1996 – Nghệ sĩ hát đơn mới xuất sắc nhất
    • 1996 – Album tiếng Pháp bán chạy nhất – Carpe Diem
    • 1998 – Nữ ca sĩ xuất sắc nhất
    • 1998 – Album tiếng Pháp bán chạy nhất – Pure
    • 2001 – Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất
  • Giải SOCAN
    • 2004 - Giải thưởng thành tựu toàn cầu[26]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă "Malade, Lara Fabian annule sa tournée". ngày 20 tháng 1 năm 2014.
  2. ^ a ă Legras, Sophie (ngày 20 tháng 1 năm 2014). "Lara Fabian annule finalement sa tournée" – via Le Figaro.
  3. ^ "Showcase exclusif de Lara Fabian". Bel RTL.
  4. ^ a ă Haskell, Richard (22 tháng 3 năm 2009). “Lara Fabian”. The Canadian Encyclopedia. Truy cập 27 tháng 10 năm 2017. 
  5. ^ “Lara Fabian : Sa vie dans le Brabant wallon”. wawamagazine.com. Truy cập 28 tháng 3, 2018. 
  6. ^ “Lara Fabian - La biographie de Lara fabian” (bằng tiếng Pháp). Voici fr. - Prisma Média. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2018. 
  7. ^ Elaine Keillor (ngày 18 tháng 3 năm 2008). Music in Canada: Capturing Landscape and Diversity. McGill-Queen's Press - MQUP. tr. 296–. ISBN 978-0-7735-3391-2. 
  8. ^ “Fabian - Biography - RFI Music”. rfimusic.com. RFI Musique. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017. 
  9. ^ MJD. “France best selling albums ever: Pure by Lara Fabian (1996)”. chartmasters.org. Chart Masters. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017. 
  10. ^ Roberts, David (2006). British Hit Singles & Albums (ấn bản 19). London: Guinness World Records Limited. tr. 192. ISBN 1-904994-10-5. 
  11. ^ Mathias Alcaraz (30 tháng 3 năm 2015). “Lara Fabian : son ex, Rick Allison, l’insulte et lui demande de ne plus chanter ses chansons”. Voici (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015. 
  12. ^ “Lara Fabian welcomes a daughter”. celebritybabies.people.com. 22 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  13. ^ “Sanremo 2015, i nomi dei 20 artisti in gara al Festival”. Sorrisi.com. 14 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  14. ^ “Lara Fabian canta "Voce" - Sanremo 2015”. Rai.TV. Rai.TV. 10 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ Serra, Michele (17 tháng 2 năm 2015). “LARA FABIAN REVIENT SUR SA PARTICIPATION À SAN REMO : "C'EST UN GRAND CONCOURS COMPLIQUÉ" (INTERVIEW)”. closermag.fr. Mondadori Magazines France. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ “Lara Fabian canta Sto male - Sanremo 2015”. Rai.TV. 12 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ “Sanremo, Lara Fabian canta Sto male. video.repubblica.it. Gruppo Editoriale L'Espresso. 13 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  18. ^ “Sanremo, Lara Fabian: "Voce". video.repubblica.it. Gruppo Editoriale L’Espresso SPA. 13 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  19. ^ “Sanremo, big eliminati: Biggio-Mandelli, Fabian, Raf, Tatangelo”. video.repubblica.it. Gruppo Editoriale L’Espresso Spa. 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ “Sanremo 2015 prima serata: Grignani, Fabian, Britti, Di Michele e Coruzzi a rischio eliminazione”. soundsblog.it. Canale Blogo Entertainment. 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ “Sanremo 2015, chi è Lara Fabian? La star internazionale che nessuno ha mai sentito”. ilfattoquotidiano.it. Editoriale il Fatto S.p.A. 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ “Lara Fabian "Greatest Hits Tour 2015". chartsinfrance.net. 31 tháng 1 năm 2013. 
  23. ^ http://www.monafm.fr/news/lara-fabian-annonce-un-nouveau-single-et-un-album-pour-f%C3%A9vrier-2019-7481
  24. ^ https://www.larafabian.com/bio
  25. ^ Soto-Morettini, D, Popular Singing: A Practical Guide To: Pop, Jazz, Blues, Rock, Country and Gospel, p. 58. A & C Black, ISBN 978-0-7136-7266-4
  26. ^ "2004 SOCAN AWARDS | SOCAN". www.socan.ca.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Plastic Bertrand
với "Amour, Amour"
Đại diện cho Luxembourg trong Eurovision Song Contest
1988
Kế nhiệm:
Park Café
với "Monsieur"