Nước điện giải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nước điện giải hay còn gọi theo Tiếng Anh là Alkaline Ionized Water (Nước điện giải kiềm hóa/ nước ion kiềm), theo Tiếng Nhật là Kangen (nước hoàn nguyên), theo ngôn ngữ khoa học là Electrolyzed Reduced Water (ERW-Nước chiết xuất điện phân) đều dùng để chỉ một loại nước được sản xuất bằng công nghệ điện giải tương tự loại nước tồn tại trong cơ thể sống có các tính chất đặc trưng như giàu vi khoáng, kiềm tính, giàu chất chống ô xy hóa và gồm các cụm phân tử nước được chia nhỏ. (Thạc sĩ, chuyên gia công nghệ Ninh Văn Giang, tham khảo kênh youtube: "giangmba6")

Nước điện giải được sản xuất từ Máy lọc nước công nghệ điện giải (hay còn gọi là máy tạo nước Pi). Loại máy này gồm 2 bộ phận là bộ phận lọc và buồng điện giải. Bộ phận lọc thông thường sử dụng 1 hoặc 2 lõi lọc trong đó có các vật liệu lọc và màng lọc UF (màng siêu lọc) hoặc dùng màng Hollow Fiber (gồm hàng ngàn các ống sợi rỗng) (Xem cấu tạo bộ phận lọc: http://bion-tech.com/en/rnd/core_technolog04.php). Nước đầu vào thông thường là nước máy hoặc nước ngầm đã qua xử lý được chảy qua bộ phận lọc gồm nhiều lớp vật liệu lọc để tạo ra nước tinh khiết giàu khoáng chất. Nguồn nước này sau đó được đổ vào buồng điện giải, nước được các bản cực điện phân để phân tách các ion và tạo thành 2 dòng nước là nước điện giải và nước a xít nhẹ (a xít điện giải). (Xem sơ đồ cấu tạo và vận hành: http://bion-tech.com/en/rnd/core_technolog01.php).

Nước điện giải được công bố trong nhiều nghiên cứu của học viện y khoa Hoa Kỳ là có các tác dụng hỗ trợ, điều trị với các căn bệnh nan y như: CÁC NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG NƯỚC PI VỚI CÁC BỆNH UNG THƯ - Góp phần triệt tiêu tế bào bạch cầu cấp gây bệnh Bạch cầu cấp (Leukemia) Nguồn: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19202298 - Làm chậm sự phát triển của u bướu bằng cách ngăn sự phát triển của mạch máu nuôi u bướu. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18175936 - Ngăn cản sự nhân lên của tế bào ung thư Nguồn:http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19003049 TÁC DỤNG VỚI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG - Giảm mật độ tập trung của Glucose trong máu, tăng khả năng chịu glocose Nguồn:http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/16945392 - Ngăn sự hư hại tế bào tuyến tụy-một nguyên nhân gây bệnh tiểu đường Nguồn:http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19003114 - Bảo vệ tế bào tuyến tụy Nguồn:http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19003114 - Uống nước Pi thường xuyên không chỉ giảm glucose trong máu mà còn giảm colesterol và triglyceride (chất béo trung tính) TÁC DỤNG CHỐNG LÃO HÓA Nguồn:http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17159237

Nguồn gốc của nước điện giải[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ 17-18: Tìm ra các nguồn nước chữa bệnh Các nguồn nước chữa bệnh: Các mỏ nước, giếng nước khoáng ngầm có các tác dụng chữa bệnh trên thế giới: Giếng Nordenau- Đức, Tlacote - Mê hi cô, Nadana - Ấn Độ: Nước chữa được cả béo phì, cholesterol, cho đến ung thư ruột, các bệnh tiêu hóa và làm đẹp da. Hang nước Lourdes ở Pháp là nơi nghỉ dưỡng và uống nước để phục hồi cơ thể. Tìm ra nước điện giải (nước Pi) Nước điện giải được tìm ra tại Nhật bản do Giáo sư nông nghiệp Akihiro Yamashita, ĐH Nagoya tìm ra khi ông đang nghiên cứu: “cơ chế nụ nở thành hoa” của các loài thực vật. Một thứ nước diệu kỳ không phải là hoóc môn, mà ban đầu ông tạm gọi là “nước cơ thể” vì nước này tồn tại trong các cơ thể sống. Khác với nước thông thường, nước cơ thể giúp cơ thể miễn dịch, chống bệnh tật và ngăn quá trình lão hóa tế bào. Những năm 1950: Máy lọc nước công nghệ điện giải (Máy tạo nước Pi) được sử dụng trong một số bệnh viện ở Hàn Quốc và Nhật Bản Năm 1958: Máy tạo nước Pi được thu nhỏ sử dụng trong gia đình Năm 1966: Máy tạo nước Pi được công nhận là thiết bị y tế dùng trong gia đình (Nguồn http://www.alkalizer.com/alkalizer/history.shtml)

Nước điện giải là nước tốt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nước sạch sẽ: nước điện giải hoàn nguyên không chứa chất có hại đối với cơ thể con người, như clo, kim loại nặng v.v... còn nước bình thường thì chứa chất florua, có thể trúng độc florua, gây sâu răng, loãng xương, tiêu chảy mãn tính, sơ cứng động mạch … và những bệnh khác, là 1 vấn đề nhức nhối, vì không dễ loại bỏ nó. Nhưng trong nước điện giải có thể loại bỏ đại đa số chất có hại, trở thành loại nước sạch sẽ.
  • Giữ lại những nguyên tố có lợi cho cơ thể con người: sau khi qua điện giải, những khoáng chất có lợi cho sức khỏe được giữ lại như canxi magie kali natri …bị ion hóa, có lợi hơn cho sự hấp thu của cơ thể. Thiếu canxi là 1sự thật phổ biến của con người, và trong nước hoàn nguyên điện giải có rất nhiều canxi ở dạng ion để cơ thể con người dễ hấp thu, rất đáng được chú ý.
  • Kiềm tính yếu, có thể trung hòa độc tố acid trong cơ thể: 1 cơ thể khỏe mạnh có độ pH từ 7.35-7.45 ở trạng thái kiềm yếu. Vì môi trường ô nhiễm, thói quen ăn uống không tốt, áp lực công việc, thiếu vận động …và những nguyên nhân khác, cơ thể con người dần bị acid hóa, chức năng các tế báo yếu dần, rối loạn trao đổi chất. Độ pH của nước điện giải thuộc kiềm tính yếu, cơ thể nhanh chóng thanh lọc độc tố acid dư thừa sau quá trình trao đổi chất, thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Theo lâm sàng, nếu chất acid cứ tăng cao vượt quá sức chịu đựng, làm cho dịch thể bị acid hóa, gây nên máu bị đông, mao mạch máu bị tắc nghẽn, sẽ phát sinh tai biến não, nhồi máu cơ tim, đều là những bệnh nghiêm trọng ở tuổi già. Thường xuyên uống nước điện giải để có tác dụng duy trì tính kiềm yếu trong dịch thể, cải thiện tuần hoàn máu, làm cho "máu huyết lưu thông", có lợi cho cơ thể khỏe mạnh.
  • Phân tử nước nhỏ: sau khi được điện giải, phân tử nước bình thường có 13 phân tử được tách ra thành 5-6 phân tử nước nhỏ. Loại nước này có sức thẩm thấu mạnh, sức hòa tan tốt, có năng lượng hoạt tính mạnh, giúp nhanh chóng thấm vào thành tế bào, để đẩy hết chất cặn bã trong tế bào ra ngoài, duy trì sự sach sẽ và thông suốt trong cơ thể.
  • Sản sinh ra điện vị âm: y học hiện nay chứng minh, gốc tự do là nguyên nhân làm cho con người bị lão hóa, là nhân tố gây ra bệnh tật, nước điện giải hoàn nguyên có thể khử đi hoặc trung hòa 75% gốc tự do trong máu. Khi cơ thể con người ở trạng thái khỏe mạnh, lượng nước trong cơ thể con người có độ ORP là -200~-100mv, độ ORP trong máu là -100mv. Khi bị bệnh, ORP có trị số âm biến thành trị số dương. Khi ORP có trị số âm, có thể khử đi gốc tự do dư thừa trong cơ thể nước điện giải hoàn nguyên có tác dụng hoàn nguyên, sản sinh ra điện vị âm (-ORP), giải phóng điện tử, trung hòa, khử đi gốc tự do, có khả năng phòng bệnh, hỗ trợ trị liệu có hiệu quả.

Tính an toàn khi uống nước điện giải[sửa | sửa mã nguồn]

-Quốc gia đầu tiên bắt đầu nghiên cứu nước điện giải là nước Nhật bản, đến nay đã có 70 năm lịch sử, đối với tính an toàn khi uống nước điện giải, đều nhận được sự khẳng định của đại đa số học giả. Nước điện giải được tạo ra từ máy tạo nước điện giải sử dụng trong gia đình, đặc tính của nước là mang tính kiềm yếu (pH9~pH10), có sự cải thiện hiệu quả đối với những triệu chứng của bệnh dạ dày (phần bụng không tốt), điểm này đã nhận được sự công nhận của Bộ y tế quốc gia năm 1992, bộ y tế kiến nghị "hiệp hội máy lọc nước điện giải kiềm tính" nhắm vào chất lượng, tính hiệu quả, và tính an toàn của nước điện giải kiềm tính để nghiệm chứng khoa học, kết quả cuối cùng đã xác nhận nước điện giải kiềm tính xác thực là có hiệu quả, và xác nhận là có hiệu quả cải thiện đối với những tình trạng dạ dày lên men dị thường, dinh dưỡng canxi đối với xương, niêm mạc dạ dày bị tổn hại.
-Báo cáo thử nghiệm lâm sàng của Nhật bản:
Thử nghiệm lâm sàng bao gồm: thử nghiệm lâm sàng cơ sở, thử nghiệm lâm sàng sơ bộ, thử nghiệm lâm sàng so sánh (mạo hiểm hai lần thử nghiệm) do bộ trưởng bộ tăng trưởng trị liệu quốc lập, giáo sư Teng Shanjia Tesuharu thi hành.
  • Thử nghiệm lâm sàng cơ sở: đối tượng nghiệm chứng là những người có sức khỏe tốt tự nguyện tham gia, chủ yếu là nghiệm chứng tính an toàn của độ pH biến đổi trong dạ dày, tính an toàn trong thời gian ngắn và thời gian dài.
Nghiệm chứng tính an toàn của độ pH trong dạ dày: uống 1 ngày 1 lít nước kiềm tính có độ pH9, 10, 11 (buổi sáng uống 1 ly, sau đó uống tự do). Sau khi uống 7 ngày, xác nhận máu, tiểu tiện, đại tiện và độ pH biến động trong dạ dày. Đối với độ pH biến hóa trong dạ dày, sau khi uống nước điện giải kiềm tính có độ pH9 thì hiển thị độ pH tăng lên (khoảng 0.5) (pH 10 và 11 cũng có cùng kết quả), điều này cho thấy nước điện giải kiềm tính có khả năng áp chế acid hiệu quả.
Kiểm nghiệm tính an toàn ngắn ngày và dài ngày: mỗi ngày uống 1 lít nước điện giải kiềm tính liên tục 7 ngày (ngắn ngày) và 1 năm (dài ngày) để nghiệm chứng tính an toàn. Kết quả cho thấy, uống nước điện giải kiềm tính không vượt quá độ pH 10 là an toàn.
  • Thử nghiệm lâm sàng sơ bộ: trong số 25 người có triệu chứng ở phần bụng (tiêu hóa không tốt, đường ruột lên men dị thường, tiêu chảy mãn tính, táo bón) tự nguyện tham gia thử nghiệm. Uống nước điện giải kiềm tính có độ pH9.5 1 ngày uống 1 lít, tiến hành nghiệm chứng sau 2 tuần uống nước. Phát hiện 88% người bệnh có sự cải thiện. Đồng thời, đối với đại tiện dị thường (táo bón hoặc tiêu chảy mãn tính), cũng có được sự cải thiện rõ ràng.
  • Thử nghiệm lâm sàng so sánh: dựa theo kết quả thử nghiệm lâm sàng sơ bộ, lấy những người có độ tuổi trên 20 tuổi tự nguyện tham gia thực nghiệm để thử nghiệm lâm sàng so sánh (đều không thông báo sẽ làm thực nghiệm gì đối với những người làm thực nghiệm và những người bị làm thực nghiệm), thực ra có 84 người uống nước kiềm tính, 79 người uống nước tinh khiết.
Thông qua những thử nghiệm trên của nước điện giải, kết quả cho biết, nước điện giải hoàn nguyên có tác dụng thúc đẩy khống chế acid trong dạ dày, có tác dụng thay đổi môi trường trong đường ruột, có thể phòng tránh thiếu canxi và những cơ chế nào đó. Từ kết quả đánh giá tính an toàn qua thực nghiệm và thực nghiệm lâm sàng của nước điện giải hoàn nguyên cho thấy, tính an toàn của nước điện giải có độ kiềm pH 10 trở xuống là không có vấn đề.