NGC 1981

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
NGC 1981
M42 HaRGB Composite Feb 2012 P.jpg
NGC 1981 is the sparse scattering of bright stars without nebulosity at the top (north) of this image of the Orion Nebula region
Dữ liệu quan sát
Xích kinh05h 35m 09.6s[1]
Xích vĩ−04° 25′ 30″[1]
Đặc trưng vật lý
Xem thêm: Cụm sao phân tán, Danh sách cụm sao phân tán

NGC 1981 (còn được gọi là OCL 525) là một cụm sao mở nằm trong chòm sao Lạp Hộ. Nó được phát hiện bởi John Herschel vào ngày 4 tháng 1 năm 1827. Độ lớn biểu kiến của nó là 4.2 và kích thước của nó là 28,00 phút cung. Nó nằm ở phía bắc của Tinh vân Orion, được ngăn cách với nó bởi khu vực Sh2-279 chứa NGC 1973, 1975 và 1977.

Một số người nói nó trông giống Cá sấu hoặc Cá sấu, ngôi sao phía đông của nó là mõm, ngôi sao phía tây của nó là đuôi và hai nhóm ba ngôi sao ở giữa nó như hai bộ chân của nó.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “NED results for object NGC 1981 *”. NED. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2017.
  2. ^ “Overlooked Wonders In Orion's Shadow”. Sky and Telescope. ngày 10 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2017.