Ngũgĩ wa Thiong'o

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ngũgĩ wa Thiong'o

Ngũgĩ wa Thiong'o kí tặng sách tại Congress Centre ở Luân Đôn
Sinh5 tháng 1, 1938 (81 tuổi)
Kamiriithu, Thuộc địa Kenya
Công việcNhà văn
Ngôn ngữTiếng Anh, Gikuyu

Ngũgĩ wa Thiong'o (phát âm tiếng Gikuyu[ᵑɡoɣe wa ðiɔŋɔ]; sinh ngày 5 tháng 1 năm 1938)[1] là một nhà văn người Kenya, trước đây viết bằng tiếng Anh và hiện đang viết bằng tiếng Gikuyu. Tác phẩm của ông bao gồm tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, và tiểu luận, từ phê bình văn học và xã hội văn học thiếu nhi. Ông là người sáng lập và biên tập viên của tạp chí ngôn ngữ Gikuyu Mũtĩiri.

Năm 1977, Ngũgĩ dấn thân vào một sân khấu với hình thức tiểu thuyết ở quê nhà Kenya. Sân khấu này tìm cách giải phóng quá trình sân khấu với những gì ông cho là "hệ thống giáo dục tư sản nói chung", bằng cách khuyến khích tính tự phát và đối tượng tham gia trong các buổi biểu diễn.[2] Dự án của ông tìm cách "làm sáng tỏ" quá trình sân khấu, và để tránh sự "quá trình tha hóa mà tạo ra một bộ sưu tập của các ngôi sao tích cực và một khối không phân biệt của người hâm mộ biết ơn" mà theo Ngũgĩ thì quá trình này khuyến khích sự thụ động trong "những người bình thường".[2] Mặc dù Ngaahika Ndeenda đã có được thành công thương mại, nó đã bị các chế độ độc tài Kenya đóng cửa sáu tuần sau khi mở cửa.[2]

Ngũgĩ sau đó đã bị cầm tù trong hơn một năm. Với tư cách là một tù nhân lương tâm của Ân xá Quốc tế, ông được ra tù, và thoát khỏi Kenya. Tại Hoa Kỳ, ông giảng dạy tại Đại học Yale trong một vài năm, và sau đó giảng dạy tại Đại học New York, với một học hàm giáo sư kép ngành Văn học so sánh và Nghiên cứu hiệu suất, tiếp đó ông làm việc tại Đại học California, Irvine. Ngũgĩ đã thường xuyên được coi là một ứng cử viên tiềm năng cho giải Nobel Văn học.[3][4][5] Con trai của ông là tác giả Mũkoma wa Ngũgĩ.[6]

Danh mục tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyển tập truyện ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

  • A Meeting in the Dark (1974)
  • Secret Lives, and Other Stories, (1976, 1992) ISBN 0-435-90975-4

Kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu luận[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi ký[sửa | sửa mã nguồn]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Education for a National Culture (1981)
  • Barrel of a Pen: Resistance to Repression in Neo-Colonial Kenya (1983)
  • Mother, Sing For Me (1986)
  • Writing against Neo-Colonialism (1986)
  • Something Torn and New: An African Renaissance (2009) ISBN 978-0-465-00946-6[7]
  • Globalectics: Theory and the Politics of Knowing (2012)

Sách thiếu nhi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Njamba Nene and the Flying Bus (dịch bởi Wangui wa Goro)" Njamba Nene na Mbaathi i Mathagu, 1986)
  • Njamba Nene and the Cruel Chief (dịch bởi Wangui wa Goro) (Njamba Nene na Chibu King'ang'i, 1988)
  • Njamba Nene's Pistol (Bathitoora ya Njamba Nene, 1990) ISBN 0-86543-081-0

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ngũgĩ wa Thiong'o: A Profile of a Literary and Social Activist”. ngugiwathiongo.com. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ a ă â Ngũgĩ wa Thiong'o, Decolonising the mind: the politics of language in African literature, 1994, pp. 57–9.
  3. ^ Evan Mwangi, "Despite the Criticism, Ngugi is 'Still Best Writer'".
  4. ^ "Kenyan author sweeps in as late favourite in Nobel prize for literature".
  5. ^ "Ngugi wa Thiong'o: a major storyteller with a resonant development message".
  6. ^ Mukoma Wa Ngugi website.
  7. ^ Mwangi, Evan, "Queries over Ngugi's appeal to save African languages, culture", Daily Nation, Lifestyle Magazine, 13 tháng 6 năm 2009.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]