Tù nhân lương tâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tù nhân lương tâm (tiếng Anh: Prisoner of conscience) là một thuật ngữ được đặt ra bởi các nhóm đấu tranh cho nhân quyền thuộc Tổ chức Ân xá quốc tế trong đầu thập niên 1960. Thuật ngữ này có thể đề cập đến bất cứ ai bị bỏ tù vì lý do chủng tộc, chính trị, tôn giáo, màu da, ngôn ngữ, xu hướng tình dục, niềm tin hay lối sống của họ, miễn là họ đã không sử dụng hoặc ủng hộ bạo lực. Thuật ngữ này cũng chỉ những người đã bị cầm tù và/hoặc bị bách hại vì biểu lộ niềm tin theo lương tâm của họ cách không bạo động.

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 5 năm 1961, bài báo Các tù nhân bị bỏ quên đã khởi đầu chiến dịch Lời kêu gọi cho Tổ chức Ân xá Quốc tế năm 1961 và lần đầu thuật ngữ tù nhân lương tâm được định nghĩa:[1]

Bất kỳ người nào mà thân xác bị kiềm chế (do bị cầm tù hay cách khác) vì biểu lộ - dưới mọi hình thức của các từ ngữ hoặc ký hiệu - bất kỳ ý kiến mà họ quan niệm một cách trung thực và không ủng hộ hoặc chấp nhận việc bạo hành cá nhân. Chúng tôi cũng loại trừ những người đã âm mưu với một chính phủ nước ngoài để lật đổ chính phủ của chính họ.


Các mục tiêu chính cho chiến dịch kéo dài một năm này, được thành lập bởi luật sư người Anh Peter Benenson và một nhóm nhỏ các nhà văn, học giả, luật sư, đặc biệt là người thuộc giáo phái Quaker hoạt động cho hòa bình Eric Baker, là xác định từng cá nhân các "tù nhân lương tâm" trên toàn thế giới và sau đó đấu tranh có tổ chức cho việc phóng thích họ. Trong đầu năm 1962 chiến dịch đã nhận được hỗ trợ đủ của công chúng để trở thành một tổ chức thường trực và được đổi tên thành Tổ chức Ân xá Quốc tế.

Theo luật pháp nước Anh, Tổ chức Ân xá Quốc tế được xếp loại là một tổ chức chính trị và do đó bị loại trừ khỏi cương vị tổ chức từ thiện được miễn thuế.[2] Để làm việc cho mục đích này, "Quỹ vì người bị bức hại" được thành lập vào năm 1962 để nhận của cải quyên tặng để hỗ trợ cho tù nhân và gia đình họ. Quỹ này sau đó được đổi tên thành "Quỹ chống án cho các tù nhân lương tâm" và ngày nay là một quỹ từ thiện riêng biệt và độc lập cung cấp cứu trợ và phục hồi chức năng cho các tù nhân lương tâm ở Anh và trên khắp thế giới.[3] Từ khi thành lập, Tổ chức Ân xá quốc tế đã làm áp lực các chính phủ để giải phóng những người mà Tổ chức này coi là tù nhân lương tâm.[4][5] Ngược lại, chính phủ các nước có xu hướng phủ nhận rằng các tù nhân đặc thù được Tổ chức Ân xá quốc tế xác định là tù nhân lương tâm, trên thực tế, thực sự là một mối đe dọa cho an ninh của đất nước.[6] Cụm từ này hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các cuộc thảo luận chính trị để mô tả một tù nhân chính trị, đã hoặc chưa được tổ chức Ân xá Quốc tế nhìn nhận, tuy cụm từ có một phạm vi và định nghĩa khác nhau hơn là tù nhân chính trị.[7]

Qua thực tế sử dụng cái gọi “tù nhân lương tâm” nhằm vu cáo chính quyền tại một số quốc gia, Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International - AI) tỏ rõ thái độ xem thường, bất chấp luật pháp, xâm phạm vào công việc nội bộ của một số quốc gia có chủ quyền. Và xem xét cách thức AI sử dụng khái niệm này thì phải khẳng định bản chất vấn đề là ở chỗ: AI cố tình sản xuất ra một khái niệm mập mờ để xóa nhòa ranh giới giữa người hoạt động nhân quyền đích thực với người chỉ nấp dưới chiêu bài nhân quyền để gây rối, chống đối, phá hoại.

Vấn đề tù nhân lương tâm tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Ân xá Quốc tế lên tiếng bảo vệ một số tù nhân tại Việt Nam được tổ chức này cho là tù nhân lương tâm như Cù Huy Hà Vũ;[8] Lê Công Định;[9] Nguyễn Đan Quế;[10] Nguyễn Văn Hải;[11] Nguyễn Văn Lý;[12] Phan Thanh Hải;[13] Tạ Phong Tần;[13] Vi Đức Hồi,[14] Hoàng Đức Bình,[15] Trần Hoàng Phúc,[16] Vũ Quang Thuận,[16] Nguyễn Văn Điển,[16] Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,[17] Nguyễn Hữu Vinh,[18] Trần Thị Nga,[19] Trần Huỳnh Duy Thức,[20]...

Theo bản báo cáo năm 2018 của Tổ chức Ân xá Quốc tế, Việt Nam hiện đang có 97 tù nhân lương tâm. "Việt Nam là một trong những nhà tù tích cực nhất trong việc giam giữ các nhà hoạt động ôn hòa tại Đông Nam Á".[21]

Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt NamNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì tại Việt Nam không có tù nhân lương tâm. Bà Nguyễn Phương Nga phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết: "Chúng tôi bác bỏ những phát biểu can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là một nhà nước pháp quyền. Cũng như ở mọi quốc gia khác, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Không có cái gọi là 'tù nhân lương tâm' ở Việt Nam".[22] Theo ông Cao Đức Thái, Viện trưởng Viện Nhân quyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia thì khái niệm tù nhân lương tâm không tồn tại trong luật pháp của bất kỳ quốc gia nào.[23]

Báo Công an Nhân dân tại Việt Nam cũng bày tỏ quan điểm chỉ trích đối với tổ chức Ân xá Quốc tế, cho rằng "nhiều năm qua trong các 'Bản phúc trình' và 'Báo cáo thường niên' do AI công bố đã xuyên tạc chính sách nhân đạo của Việt Nam và vu cáo 'Việt Nam đang giam giữ nhiều tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo và tù nhân lương tâm'. Ở Việt Nam không có ai là 'tù nhân chính trị', 'tù nhân tôn giáo' hay 'tù nhân lương tâm mà AI đã nêu, và hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam không tồn tại các thuật ngữ nêu trên".[24]

Với danh nghĩa “tù nhân lương tâm”, các đối tượng tội phạm luôn mong ngóng sự “cưu mang”, “thương hại” từ bên ngoài. Thậm chí, không ít kẻ còn muốn đi ngồi tù để được gọi là “tù nhân lương tâm”, tạo điểm nóng, khuếch trương được “thương hiệu”, thu hút “đầu tư” từ các tổ chức chống đối, phản động bên ngoài. Đồng thời, cũng qua chiêu bài “tù nhân lương tâm”, các đối tượng chống đối tạo cơ hội, tạo cái cớ cho những thế lực ngoại bang can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây sức ép với Đảng và Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tiễn khẳng định ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Tất cả những người bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam đều là những người vi phạm pháp luật hình sự của Việt Nam.

Một số tù nhân lương tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “London office to gather facts”. amnestyusa.org. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2008.
  2. ^ Hopgood, Steven (2006). Keepers of the Flame: The Understanding Amnesty International. Cornell University Press. tr. 70.
  3. ^ Prisoners of Conscience Appeal Fund
  4. ^ “Amnesty International History”. nobelprize.org. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  5. ^ “Amnesty International”. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2003.
  6. ^ “Human Rights and the Dirty War in Mexico by Kate Doyle”. National Security Archive. ngày 11 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2009.
  7. ^ “Freed China prisoner reaches US”. BBC News. ngày 18 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2010.
  8. ^ “Prominent Vietnamese activist jailed over democracy calls”. ngày 5 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2021.
  9. ^ “Urgent Action: Le Cong Dinh, human rights lawyer: arrested”. protectionline.org. ngày 19 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2014.
  10. ^ “Vietnamese authorities must release Dr. Nguyen Dan Que”. Amnesty International. ngày 28 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  11. ^ “Vietnamese bloggers deny charges, third in leniency bid”. BBC News. ngày 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  12. ^ “Viet Nam: Further information: Catholic priest risks being returned to prison: Father Nguyen Van Ly”. Amnesty International. ngày 9 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  13. ^ a ă “Viet Nam: Halt crackdown on freedom of expression”. Amnesty International. ngày 7 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  14. ^ 26 tháng 1 năm 2011 “Viet Nam activist prison sentence condemned” Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp). Amnesty International. ngày 26 tháng 1 năm 2011.[liên kết hỏng]
  15. ^ “Vietnam: Further Information: Maximum prison sentence for anti-Formosa activist: Hoàng Đức Bình”. amnesty.org. ngày 28 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2021.
  16. ^ a ă â “Viet Nam: Human rights activists jailed for social media posts must be released”. amnesty.ca. 9 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  17. ^ “Viet Nam: Further Information: Health fears for relocated jailed activist: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh”. amnesty.org. ngày 28 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  18. ^ “Viet Nam: Blogger and assistant detained for two years have committed no crime and must be freed”. amnesty.ca. 22 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  19. ^ “Viet Nam: Prisoner of conscience beaten, threatened”. amnesty.ca.
  20. ^ “Viet Nam: Open Letter on Prisoner of Conscience Trần Huỳnh Duy Thức”. amnesty.org. ngày 23 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  21. ^ “Viet Nam: New research reveals almost 100 prisoners of conscience as crackdown on dissent intensifies”. amnesty.org. ngày 4 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  22. ^ “Việt Nam không có tù nhân lương tâm”. VnExpress.net. ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  23. ^ “Nhận diện sự thật số 78”. qpvn.vn. 7 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2021.
  24. ^ “Tổ chức Ân xá quốc tế và hoạt động chống phá Việt Nam”. cand.com. 4 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  25. ^ Black, Ian (ngày 4 tháng 10 năm 2010). “Syria accuses teenage blogger of spying for a foreign power”. The Guardian. London.
  26. ^ “Continued detention of prisoner of conscience, Mohammed Nasheed”. Amnesty International. ngày 1 tháng 5 năm 1996. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2009.[liên kết hỏng]
  27. ^ “Karim Amer, Prisoner of Conscience”. Amnesty International USA. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  28. ^ “Anwar Ibrahim: The Campaign For The Release Of A Prisoner Of Conscience”. Amnesty International Asia Pacific Regional Office. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  29. ^ “USA: Soldier imprisoned as conscientious objector: Travis Bishop”. amnesty.org. ngày 24 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  30. ^ “Singapore: Restrictions on Singapore's longest-serving political prisoner lifted”. Amnesty International. ngày 27 tháng 11 năm 1998. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  31. ^ “Valerii Levonevskii and Aleksander Vasiliev were imprisoned for publishing a poem”. amnesty.org. ngày 17 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  32. ^ “Libertad para Jacinta Marcial”. Amnesty International. tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009. (tiếng Tây Ban Nha)
  33. ^ “Eight charged in Malaysian internet clampdown”. Amnesty International. ngày 17 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  34. ^ “Time to release Aung San Suu Kyi”. Amnesty International. ngày 25 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  35. ^ Corley, Felix (ngày 14 tháng 2 năm 2002). “Ayse Nur Zarakolu”. The Independent. London. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2009.
  36. ^ “Opposition Leader Held for Protest Attempt” (PDF). Amnesty International. ngày 13 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]