Ngựa Iomud

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ngựa Iomud
Tình trạng bảo tồnFAO (2007): không có nguy cơ[1]
Tên khác
Nguồn gốc từ quốc giaTurkmenistan
Các đặc điểm
Chiều caoMale: 152 cm[2]
 Female: 149 cm[2]
Ngựa

Ngựa Iomud là một giống ngựa nhẹ từ Turkmenistan. Giống như các giống ngựa Turkmen khác, nó được đặt tên theo bộ tộc Turkmen đã nuôi nó, Iomud.[3] Cả tên của con ngựa và tên của tộc Turkmen có thể được viết theo nhiều cách, bao gồm Iomud, Yomud, Yamud và Yomut. Ngựa Iomud được nuôi dưỡng ở Turkmenistan, đặc biệt là trong velayat của Daşoguz; ở Uzbekistan, Karakalpakstan (nay là một phần của Uzbekistan), đặc biệt là ở vùng Khwarezm và ở Iraq, IranThổ Nhĩ Kỳ.[3]:30 Không giống như Akhal-Teke, nó thường được giữ trong đàn trong các khu vựa sa mạc hoặc bán hoang mạc.[4]:297

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như các giống ngựa Turkmen khác - bao gồm cả Akhal-Teke, Ersari, Goklan, SalorSarik - giống Iomud được đặt tên cho bộ tộc Turkmen hình thành nó, Iomud.[5] Những người Iomud chiếm phần phía bắc của Turkmenistan hiện đại, từ bờ biển phía đông của Biển Caspian ở phía tây đến khu vực Daşoguz, ở rìa phía bắc của Sa mạc Karakum. Chúng chủ yếu tập trung trong các Wilayah của Balkan và Daşoguz,[3]:30 và đây được xem là khu vực xuất xứ của giống ngựa Iomud.[4]:297

Vào thế kỷ XX, số lượng ngựa thuộc giống Iomud đã giảm dần. Năm 1980, trong thời Xô Viết, tổng số được ghi nhận là 964 con, trong đó 616 con được coi là thuần chủng. Năm 1983, các trại nuôi ngựa được thiết lập với mục đích tăng số lượng ngựa giống từ 140 lên khoảng 250. Một trang trại bảo tồn cũng được thành lập ở quận Gyzyletrek, ở tây nam Turkmenistan.[4]:297

Iomud đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của giống ngựa LokaiTajikistan.[6]:88

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Barbara Rischkowsky, D. Pilling (eds.) (2007). List of breeds documented in the Global Databank for Animal Genetic Resources, annex to The State of the World's Animal Genetic Resources for Food and Agriculture. Rome: Food and Agriculture Organization of the United Nations. ISBN 9789251057629. Truy cập October 2014.
  2. ^ a ă Breed data sheet: Yomood/Turkmenistan. Domestic Animal Diversity Information System of the Food and Agriculture Organization of the United Nations. Truy cập October 2014.
  3. ^ a ă â Ali Abbas Çınar (2001). Türkmen Atı Ve Atçılığı = Turkmen Horses and Equine Culture (in Turkish and English). Istanbul: Rota Matbaacılık. ISBN 9789759581114.
  4. ^ a ă â N.G. Dmitriev, L.K. Ernst (1989). Animal genetic resources of the USSR. FAO animal production and health paper 65. Rome: Food and Agriculture Organization of the United Nations. ISBN 9251025827. Archived ngày 13 tháng 11 năm 2009. Also available here, archived ngày 29 tháng 9 năm 2017.
  5. ^ Ruth I. Meserve (1990). Some Remarks on the Turkmen Horse; in: Denis Sinor, (1990). Aspects of Altaic civilization III: proceedings of the thirtieth meeting of the Permanent International Altaistic Conference, Indiana University, Bloomington, Indiana, June 19–25, 1987. Bloomington, Indiana: Indiana University Research Institute for Inner Asian Studies. pages 127–141.
  6. ^ Elwyn Hartley Edwards (1994). The Encyclopedia of the Horse. London; New York; Stuttgart; Moscow: Dorling Kindersley. ISBN 0751301159.