Paulo Coelho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Paulo Coelho
Sinh 24 tháng 8, 1947
Rio de Janeiro, Brasil
Công việc Nhà văn
Quốc gia Brasil
Thể loại Tiểu thuyết

Paulo Coelho (sinh ngày 24 tháng 8, 1947; phát âm như "Pao-lu Koe-lhu") là tiểu thuyết gia nổi tiếng người Brasil.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Paulo Coelho sinh tại Rio de Janeiro (Brasil), vào trường luật ở đó, nhưng đã bỏ học năm 1970 để du lịch qua Mexico, Peru, BoliviaChile, cũng như châu ÂuBắc Phi. Hai năm sau ông trở về Brasil và bắt đầu soạn lời cho nhạc pop. Ông cộng tác với những nhạc sĩ pop như Raul Seixas. Năm 1974 ông bị bắt giam một thời gian ngắn vì những hoạt động chống lại chế độ độc tài lúc đó ở Brasil.

Sách của ông đã được bán ra hơn 86 triệu bản trên 150 nước và được dịch ra 56 thứ tiếng. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng của nhiều nước, trong đó tác phẩm Veronika quyết chết (Veronika decide morrer) được đề cử cho Giải Văn chương Dublin IMPAC Quốc tế có uy tín.

Tiểu thuyết Nhà giả kim (O Alquimista) của ông, một câu chuyện thấm đẫm chất thơ, đã bán được hơn 65 triệu bản trên thế giới và được dịch ra 56 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.[1] Tác phẩm này được dựng thành phim do Lawrence Fishburne sản xuất, vì diễn viên này rất hâm mộ Coelho. Sách của ông còn có Hành hương (O diário de um mago) (được công ty Arxel Tribe lấy làm cơ sở cho một trò chơi vi tính), Bên sông Piedra tôi ngồi xuống và khóc (Na margem do rio Piedra eu sentei e chorei) và Những nữ chiến binh (As Valkírias). Cuốn tiểu thuyết năm 2005 O Zahir của ông bị cấm ở Iran, 1000 bản sách bị tịch thu [1], nhưng sau đó lại được phát hành.

Những sách của ông đã được vào các danh sách những quyển sách bán chạy nhất ở nhiều nước, kể cả Brasil, Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Ý, IsraelHy Lạp. Ông là tác giả viết tiếng Bồ Đào Nha bán chạy nhất mọi thời đại.

Mặc dù có nhiều thành công, nhiều nhà phê bình ở Brasil vẫn nhìn ông như một tác giả không quan trọng, cho rằng những tác phẩm của ông quá đơn giản và giống sách tự lực (self-help book). Cũng có người xem các tiểu thuyết của ông có quá nhiều tính chất "thương mại". Sự kiện ông được vào Viện Hàn lâm Văn chương Brasil (ABL) đã gây ra nhiều tranh cãi trong các độc giả Brasil và ngay trong chính Viện Hàn lâm.

Ông và vợ là Christina định cư tại Rio de Janeiro (Brasil) và Tarbes (Pháp).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Arquivos do Inferno (1982)
  • O Manual Prático do Vampirismo (1986)
  • O diário de um Mago (1987) (Hành hương)
  • O Alquimista (1988) (Nhà giả kim)
  • Brida (1990)
  • O Dom Supremo (1991)
  • As Valkírias (1992) (Những nữ chiến binh)
  • Na margem do rio Piedra eu sentei e chorei (1994) (Bên sông Piedra tôi ngồi xuống và khóc)
  • Maktub (1994)
  • Frases (1995)
  • O Monte Cinco (1996) (Ngọn núi thứ năm)
  • O manual do guerreiro da luz (1997) (Cẩm nang của chiến binh ánh sáng)
  • Veronika decide morrer (1998) (Veronika quyết chết)
  • Palavras essenciais (1999)
  • O Demônio e a Srta. Prym (2000) (Quỷ dữ và nàng Prym)
  • Histórias para pais, filhos e netos (2001) (Cha, con và chú)
  • Onze Minutos (2003) (Mười một phút)
  • O Gênio e as Rosas (2004)
  • O Zahir (2005)
  • Ser como um rio que fluye (2006) (Như một dòng sông chảy)
  • A bruxa de Portobello (2006) (Phù thủy phố Portobello)

Các bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà giả kim, Lê Chu Cầu dịch, Nxb Lao Động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002
    • Nhà giả kim, Ngọc Cầm Dương dịch, Nxb Phụ Nữ, 2006.
  • Nhà Giả Kim - Ngọn núi thứ năm, Lê Chu Cầu - Ngân Xuyên dịch, Nxb Công An Nhân Dân, 2004
  • O Zahir -Nỗi ám ảnh, Lê Xuân Quỳnh dịch, Nxb Văn học và AlphaBooks, 2006
  • Quỷ dữ và nàng Prym, Ngọc Phương Trang dịch, Nxb Phụ Nữ và Cty Cổ phần Sách Bách Việt, 2007
  • Phù thủy phố Portobello, Lê Khánh Toàn dịch, Cty Sách Bách Việt, 2007
  • Veronika quyết chết, Ngọc Phương Trang dịch, NXB Phụ Nữ, 2008
  • 11 phút, Quý Vũ dịch, Nxb Phụ Nữ, 2009
  • Cẩm nang của người chiến binh ánh sáng, Đỗ Hoàng Tùng dịch, Nxb Phụ Nữ, 2009
  • 24 giờ cô độc ở Cannes, Bùi Khánh Vân dịch, Nxb Phụ Nữ, 2010

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Paulo Coelho đã được tặng nhiều giải thưởng có uy tín:

  • Prix Lectrices d'Elle (Pháp, 1995)
  • Chevalier de l'Ordre des Arts et des Lettres (Pháp, 1996)
  • Giải quốc tế Flaiano (Ý, 1996)
  • Giải Grinzane Cavour (Ý, 1996)
  • Giải Sách Vàng (Nam Tư, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999 và 2000)
  • Chung khảo Giải Văn chương Dublin IMPAC quốc tế (International IMPAC Dublin Literary Award, Ireland, 1997 và 2000)
  • Comendador de Ordem do Rio Branco (Brasil, 1998)
  • Giải Pha lê của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (Crystal Award, World Economic Forum, 1999)
  • Huy chương vàng xứ Galicia (Tây Ban Nha, 1999)
  • Huân chương Bắc đẩu bội tinh (Chevalier de l'Ordre national de la Legion d'honneur, Pháp, 1999)
  • Giải Gương Pha lê (Ba Lan, 2000)
  • Giải «Đối thoại giữa các nền văn hoá» của «Câu lạc bộ Budapest» (Dialog of Cultures, Club of Budapest, Đức, 2001)
  • XXIII Premio Internazionale Fregene (Ý, 2001)
  • Giải 2001 Bambi (Đức, 2001)
  • Giải Ý thức toàn cầu năm 2002
  • Giải Văn học Hans Christian Andersen (2007)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Paulo Coelho, Đôi dép của José, truyện ngắn, Thanh Huyền dịch
  • Paulo Coelho: Bạn hãy tin rằng bạn không phải người đơn độc [2]
[3] phỏng vấn của Andrei Martynov
(tựa ban đầu là 11 phút trải nghiệm sau 55 năm đã sống, đăng trên Văn nghệ trẻ)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ AFP on The Alchemist: "Film mogul Harvey Weinstein on Sunday announced the screen adaptation of the novel, written 20 years ago and translated into 56 languages, with more than 65 million copies sold." (19 May 2008)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]