Pete Peterson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pete Peterson
Petepeterson.jpg
Chức vụ
Vị trí 2nd
Đại sứ của Hoa Kỳ tại Việt Nam
Nhiệm kỳ 11 tháng 4 1997 – 15 tháng 7 2001
Thông tin chung
Đảng phái Dân chủ
Danh hiệu Silver Star ribbon.svg Silver Star Medal
Legion of Merit ribbon.svg Legion of Merit
Purple Heart BAR.svg Purple Heart Medal
Prisoner of War ribbon.svg Prisoner of War Medal
Sinh 26 tháng 6, 1935 (80 tuổi)
Omaha, Nebraska, U.S.
Binh nghiệp
Phục vụ  Hoa Kỳ
Thuộc Không quân
Năm tại ngũ 1954–1980
Cấp bậc US Air Force O6 shoulderboard rotated.svg Thượng tá
Đơn vị 433rd Tactical Fighter Squadron
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Douglas Brian (Pete) Peterson (sinh 26 tháng 6 năm 1935) là một chính khách và là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ. Ông từng là phi công phục vụ trong Không quân Hoa Kỳ, sau khi máy bay bị bắn rớt trong chiến tranh Việt Nam, ông đã phải làm tù binh chiến tranh trên 6 năm. Peterson cũng là Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam sau 1975, nhậm chức từ 1997 đến 2001.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông từng là phi công của Không quân Hoa Kỳ. Đêm 10-9-1966 ông lái máy bay F-4 Phantom II vào đánh phá cầu Phú Lương và cầu Lai Vu thuộc tỉnh Hải Dương đêm 10-9-1966 nhưng bị bắn rơi, nhảy dù xuống thôn An Đoài, xã An Bình, Nam Sách (Hải Dương). Hồi tưởng về lần bị bắn rơi, Pê-tơ-sơn đã thành thật nói: Lúc bị người dân Việt Nam bắt, rất có thể tôi đã bị giết chết, rất may đã có người ngăn lại và tôi vô cùng biết ơn điều đó. Ông trải qua 6 năm rưỡi trong nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội (10 tháng 9, 1966 - 4 tháng 3, 1973). Ông cũng là dân biểu của tiểu bang Florida trong nhiệm kỳ 1991-1997.

Vào ngày 9 tháng 5 năm 1997, 22 năm và 10 ngày, sau khi Sài Gòn sụp đổ, Douglas “Pete” Peterson trở thành đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ ở Việt Nam, kể từ khi Graham Martin được di tản khỏi đất nước này cuối tháng 4 năm 1975 bằng trực thăng. Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với kẻ thù cũ là Mỹ từ năm 1994, khi cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại trong suốt 19 năm đối với Việt Nam, với lý do là chính quyền cộng sản của Việt Nam đã hợp tác trong việc xác định vị trí của 2.238 lính Mỹ được coi là mất tích trong chiến tranh Việt Nam.[1],[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]