Platycercus venustus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Platycercus venustus
Northern Rosella 3905.jpg
 
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Psittaciformes
Họ (familia) Psittacidae
Chi (genus) Platycercus
Loài (species) P. venustus
Danh pháp hai phần
Platycercus venustus
(Kuhl, 1820)
Phạm vi phân bố (màu xanh lá cây) ở Australia
Phạm vi phân bố (màu xanh lá cây) ở Australia

Platycercus venustus là một loài chim thuộc họ Psittacidae.[2]

Loài này có phạm vi phân bố từ vịnh CarpentariaArnhem Land đến Kimberley. Loài này được mô tả bởi Heinrich Kuhl năm 1820, và có hai phân loài được công nhận. Loài chim này có đầu và cổ sậm màu với màu tối với màu trắng nổi bật trên má ở phân loài từ Lãnh thổ Bắc Úc và màu xanh da trời ở phân loài Tây Úc hillii

Loài chim này có lớp lông cứng cánh và lông vai màu đen với các vảy vàng mịn, còn lưng, mông và phần dưới của nó có màu vàng nhạt với những vảy vàng đen mịn. Đuôi dài là xanh dương và đôi cánh màu đen và tím xanh. Chim trống và chim mái có bộ lông tương tự, trong khi đó con cái và chim non thường có màu đỏ.

Loài chim này được tìm thấy trong rừng và vùng đất hoang mạc mở rộng, phân loài phía bắc chủ yếu là ăn thực vật, đặc biệt là cỏ và bạch đàn, cũng như hoa quả, nhưng cũng có thể ăn côn trùng. Chúng xây tổ trong hốc cây. Mặc dù không phổ biến, phân loài phía bắc được đánh giá là loài ít quan tâm trên sách đỏ IUCN.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ bởi Ferdinand Bauer khoảng năm 1811–1813

Loài chim này được mô tả lần đầu với danh pháp Psittacus venustus bởi nhà tự nhiên học Đức Heinrich Kuhl năm 1820.[3] Mô tả này dựa trên một minh hoạ của Ferdinand Bauer từ một mẫu vật được Robert Brown (nhà thực vật học sinh ra năm 1773) Robert Brown vào tháng 2 năm 1803, trong chuyến đi vòng quanh bờ biển Úc Matthew Flinders.[4] Tên cụ thể của loài từ tiếng Latin venustus "đáng yêu".[5] Nhà động vật học Hà Lan Coenraad Jacob Temminck đã xuất bản tên Psittacus brownii để vinh danh Brown năm 1821,[6] nhà động vật học Ai Len Nicholas Aylward Vigors đã chuyển loài này (dưới danh pháp P. brownii) sang chi Platycercus năm 1827, mô tả loài này là "đẹp nhất trong họ".[7] Tuy nhiên, John Gould viết trong cuốn sách của mình năm 1865 có tựa Handbook to the Birds of Australia, "Cho đến nay, loài chim này đã được các nhà điểu học gọi là Platycercus brownii, một danh hiệu cụ thể để tôn vinh nhà thực vật học nổi tiếng; nhưng mà, tôi rất tiếc phải nói, phải ưu tiên tên venustus."[8]  

Gregory Mathews mô tả phân loài P. venustus hillii năm 1910, được thu thập bởi G.F. Hill từ vịnh Napier Broome ở Tây Úc. Ông lưu ý rằng má của phân loài này có nhiều màu xanh và ít trắng hơn phân loài chỉ định.[9] Sông Victoria đánh dấu biên giới giữa phân loài này và phân loài chỉ định.[10] Nhà phân loại động vật Arthur Cain đã xem phân loài như đồng nghĩa với việc đề cử như là sự khác biệt duy nhất mà ông biết là màu sắc của má, nhưng thừa nhận những bằng chứng khác có thể chứng minh chúng khác biệt.[11] Cùng với sự khác biệt về bộ lông má, hai loài này khác biệt với nhau về "hillii" có lông màu vàng sáng hơn trên ngực và bụng với những cạnh đen mỏng hơn, và mỏ dài hơn và rộng hơn.[10] Một phân loài,  P. venustus melvillensis từ đảo Melville, đã được mô tả bởi Mathews năm 1912, ghi chú rằng chúng có lông tối màu hơn trên lưng.[12] Tuy nhiên, người ta cho rằng không thể phân biệt được với phân loài chỉ định.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Platycercus venustus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ Clements, J. F., T. S. Schulenberg, M. J. Iliff, B.L. Sullivan, C. L. Wood, and D. Roberson (2012). “The eBird/Clements checklist of birds of the world: Version 6.7.”. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ Kuhl, Heinrich (1820). Conspectus Psittacorum : cum specierum definitionibus, novarum descriptionibus, synonymis et circa patriam singularum naturalem adversariis, adjecto indice museorum, ubi earum artificiosae exuviae servantur : cum tabulis III. aeneis pictis (bằng tiếng Latin). Bonn, Germany: self-published. tr. 52. 
  4. ^ a ă Australian Biological Resources Study (1 tháng 3 năm 2012). “Subspecies Platycercus (Violania) venustus venustus (Kuhl, 1820)”. Australian Faunal Directory. Canberra, Australian Capital Territory: Department of the Environment, Water, Heritage and the Arts, Australian Government. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 
  5. ^ Simpson, D.P. (1979). Cassell's Latin Dictionary (ấn bản 5). London: Cassell Ltd. tr. 883. ISBN 0-304-52257-0. 
  6. ^ Temminck, C.J. (1822). “Account of some new species of birds of the genera Psittacus and Columba , in the Museum of the Linnean Society”. Transactions of the Linnean Society of London  15: 170–331 [282–83]. 
  7. ^ Vigors, Nicholas Aylward (1825). “A description of the Australian birds in the collection of the Linnean Society; with an attempt at arranging them according to their natural affinities”. Zoological Journal London 1: 526–42. 
  8. ^ Gould, John (1865). Handbook to The birds of Australia. London, United Kingdom: self. tr. 53–54. 
  9. ^ Mathews, Gregory M. (1910). “In Proceedings of meeting of British Ornithologists' Club, Nov 16, 1910”. Bulletin of the British Ornithologists' Club 27: 28. 
  10. ^ a ă Higgins 1999, tr. 368.
  11. ^ Cain, Arthur J. (1955). “A revision of Trichoglossus hematodus and of the Australian Platycercine parrots”. Ibis 97 (3): 432–79 [464]. doi:10.1111/j.1474-919X.1955.tb04978.x. 
  12. ^ Mathews, Gregory M. (1912). “Additions and corrections to my Reference List to the Birds of Australia”. Austral Avian Records 1 (2): 25–52 [36]. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]