Plectropomus areolatus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Plectropomus areolatus
Squaretail coral grouper (Plectropomus areolatus) (31785651247).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Perciformes
Họ (familia)Serranidae
Phân họ (subfamilia)Epinephelinae
Chi (genus)Plectropomus
Loài (species)P. areolatus
Danh pháp hai phần
Plectropomus areolatus
(Rüppell, 1830)

Plectropomus areolatus, tên thường gọi là cá mú đuôi bằng, là một loài cá biển thuộc chi Plectropomus trong họ Cá mú. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1830.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

P. areolatus có phạm vi phân bố rộng rãi ở vùng biển Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Ở Ấn Độ Dương, loài này được tìm thấy tại Biển Đỏ, Comoros, Maldives, Chagos, vịnh Mannar, quần đảo Andaman và Nicobar, ngoài khơi Myanmar và Thái Lan. Ở Thái Bình Dương, loài này được tìm thấy tập trung chủ yếu ở phía đông quần đảo Mã Lai (rải rác ở phía tây); phía bắc giới hạn đến Quần đảo Ryukyu (Nhật Bản); phía nam đến Úc (phía bắc Tây Úc và phía bắc Queensland); phía đông có mặt ở nhiều quần đảo thuộc các tiểu vùng Melanesia, MicronesiaPolynesia. Ở Biển Đông, P. areolatus có mặt tại quần đảo Hoàng Sa[1][2].

P. areolatus trưởng thành sống thành nhóm khoảng hàng chục cá thể, bơi xung quanh các rạn san hô ở vùng đáy đá; cá con sống trong các thảm cỏ biển hay rạn đá ngầmhồ thủy triều, hoặc khu vực rừng ngập mặn, ở độ sâu khoảng 40 m trở lại[1].

Số lượng của M. fusca đang dần suy giảm dáng kể do bị đánh bắt quá mức, đặc biệt là việc nhắm vào các nhóm vào mùa sinh sản của chúng. Biến đổi khí hậu cũng góp phần tác động xấu đến loài này. M. fusca được xếp vào danh sách Loài sắp nguy cấp[1].

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

P. areolatus trưởng thành có chiều dài cơ thể lớn được ghi nhận là 80 cm[2][3][4].

Số gai ở vây lưng: 7 - 8; Số tia vây mềm ở vây lưng: 10 - 12; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây mềm ở vây hậu môn: 8; Số tia vây mềm ở vây ngực: 15 - 17[2][4].

Thức ăn của P. areolatus là những loài cá nhỏ hơn, và cũng bao gồm các động vật giáp xácđộng vật thân mềm. Loài này được đánh bắt trong nghề cá thương mại, tuy nhiên các cá thể lớn có thể gây ngộ độc ciguatera[1][2].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]