Primidone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Primidone, được bán dưới nhiều tên thương hiệu khác nhau, là một loại thuốc dùng để điều trị động kinh bao gồm co giật một phần và toàn thân.[1] Nó cũng có thể được sử dụng cho chữa trị run rẩy.[2] Liều dùng có thể dựa trên mức độ đo trong máu.[1] Nó được uống qua miệng.[1]

Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm buồn ngủ, phối hợp kém, buồn nônchán ăn.[1] Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể bao gồm tự tử, rối loạn tâm thần, thiếu tế bào máu.[1][2] Sử dụng trong khi mang thai có thể gây hại cho em bé.[1] Primidone một thuốc chống co giật thuộc nhóm barbiturat.[1] Cách thức hoạt động của nó không hoàn toàn rõ ràng.[1]

Primidone đã được phê duyệt cho sử dụng y tế tại Hoa Kỳ vào năm 1954.[1] Nó là có sẵn như là một loại thuốc gốc.[2] Lượng cung cấp thuốc này trong 1 tháng ở Vương quốc Anh tiêu tốn của NHS khoảng 68,40 bảng tính đến năm 2019.[2] Tại Hoa Kỳ, chi phí bán buôn lượng thuốc này là khoảng 13,20 USD.[3] Trong năm 2016, đây là loại thuốc được kê đơn nhiều thứ 237 tại Hoa Kỳ với hơn 2 triệu đơn thuốc.[4]

Sử dụng trong y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Động kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Chất này được cấp phép cho co giật tonic-clonic tổng quát và co giật một phần phức tạp ở Vương quốc Anh.[5] Tại Hoa Kỳ, primidone được chấp thuận cho điều trị bổ trợ (kết hợp với các loại thuốc khác) và sử dụng đơn trị liệu trong các cơn co giật tonic-clonic tổng quát, co giật một phần đơn giản và co giật một phần phức tạp và co giật cơ.[5] Trong bệnh động kinh cơ thiếu niên (JME), đây là một liệu pháp thứ hai, được dành riêng khi valproates hoặc lamotrigine không hoạt động và khi các liệu pháp điều trị bậc hai khác — acetazolamide cũng không hoạt động.[6]

Loạt trường hợp nhãn mở đã gợi ý rằng primidone có hiệu quả trong điều trị động kinh.[7][8][9][10][11] Primidone đã được so sánh với phenytoin,[12] phenobarbital,[12] mephobarbital, ethotoin, metharbitalmephenytoin.[12] Trong các thử nghiệm so sánh ở người lớn, primidone đã cho thấy là có hiệu quả tương tự.[12]

Chứng run cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Primidone được coi là một liệu pháp đầu tiên cho chứng run cơ bản cùng với propranolol. Về mặt giảm biên độ chấn động, nó cũng hiệu quả như propranolol, giảm 50%. Cả hai loại thuốc đều được nghiên cứu tốt cho tình trạng này, không giống như các phương pháp điều trị khác, và được khuyến nghị điều trị ban đầu. 25 mg/ngày (trị liệu liều thấp) chỉ bằng 75 mg/ngày (điều trị liều cao).[13]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê “Primidone Monograph for Professionals”. Drugs.com (bằng tiếng Anh). American Society of Health-System Pharmacists. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ a ă â b British national formulary: BNF 76 (ấn bản 76). Pharmaceutical Press. 2018. tr. 332. ISBN 9780857113382. 
  3. ^ “NADAC as of 2019-02-27”. Centers for Medicare and Medicaid Services (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2019. 
  4. ^ “The Top 300 of 2019”. clincalc.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. 
  5. ^ a ă Acorus Therapeutics, Ltd. (2005). “Mysoline 250 mg Tablets”. electronic Medicines Compendium. Datapharm Communications and the Association of the British Pharmaceutical Industry (ABPI). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2006. 
  6. ^ Broadley, Marissa A. (200). “Juvenile Myoclonic Epilepsy of Janz (JME)”. The Childhood Seizure e-Book. Valhalla, New York. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2005. 
  7. ^ Williams, Denis (1 tháng 8 năm 1956). “Treatment of Epilepsy with Mysoline”. Proceedings of the Royal Society of Medicine 49 (8): 589–91. PMC 1889099. PMID 13359420. 
  8. ^ Whitty, C. W. (5 tháng 9 năm 1953). “Value of primidone in epilepsy”. British Medical Journal 2 (4835): 540–1. PMC 2029655. PMID 13082031. doi:10.1136/bmj.2.4835.540. 
  9. ^ Livingston, Samuel; Don Petersen (16 tháng 2 năm 1956). “Primidone (mysoline) in the treatment of epilepsy; results of treatment of 486 patients and review of the literature”. New England Journal of Medicine 254 (7): 327–9. PMID 13288784. doi:10.1056/NEJM195602162540706. 
  10. ^ Smith, Bernard H.; Francis L. McNaughton (tháng 5 năm 1953). “Mysoline, a new anticonvulsant drug; its value in refractory cases of epilepsy.|titlhoward stern babba booey e = Mysoline, A new Anticonvulsant: Its Value in Refractory Cases of Epilepsy”. Canadian Medical Association Journal 68 (5): 464–7. PMC 1822778. PMID 13042720. 
  11. ^ Powell, C.; Painter MJ; Pippenger CE (tháng 10 năm 1984). “Primidone therapy in refractory neonatal seizures”. Journal of Pediatrics 105 (4): 651–4. PMID 6481545. doi:10.1016/S0022-3476(84)80442-4. 
  12. ^ a ă â b Gruber, C. M., Jr.; J. T. Brock; M. Dyken (January–February 1962). “Comparison of the effectiveness of phenobarital, mephobarbital, primidone, diphenylhydantoin, ethotoin, metharbital, and methylphenylethylhydantoin in motor seizures”. Clinical Pharmacology and Therapeutics 3: 23–8. PMID 13902356. 
  13. ^ Zesiewicz TA, Elble R, Louis ED, Hauser RA, Sullivan KL, Dewey RB, Ondo WG, Gronseth GS, Weiner WJ (28 tháng 6 năm 2005). “Practice Parameter: Therapies for essential tremor: Report of the Quality Standards Subcommittee of the American Academy of Neurology”. Neurology 64 (12): 2008–20. PMID 15972843. doi:10.1212/01.WNL.0000163769.28552.CD. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2007.