Qit'at Jaradah

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
cồn Qit'at Jaradah
Vị trí, khoảng giữa BahrainQatar
Qit'at Jaradah
Địa lý
Vị trí vịnh Ba Tư
Tọa độ 26°10′41″B 50°54′00″Đ / 26,178°B 50,9°Đ / 26.178; 50.90Tọa độ: 26°10′41″B 50°54′00″Đ / 26,178°B 50,9°Đ / 26.178; 50.90
Quần đảo Bahrain
Tổng số đảo 1
Diện tích 48 m2 (517 sq ft)
(thủy triều cao)
45.000 m2 (480.000 sq ft)
(thủy triều thấp)
Độ cao tương đối lớn nhất 0,4 m (13 ft)
(thủy triều cao)
Hành chính
Governorate Muharraq Governorate
Nhân khẩu học
Demonym Bahraini
Dân số 0 (tính đến 2016)
Mật độ 0 /km2 (0 /sq mi)
Thông tin khác
Múi giờ
Trang web www.bahrain.com

Qit'at Jaradah là một cồn nhỏ trong Vịnh Ba Tư về phía đông của đảo Bahrain, khoảng cách 32 km (20 dặm) về phía đông Manama, thủ đô của Bahrain. Về mặt lịch sử, thực thể này chỉ ở trên mặt nước khi thủy triều thấp vào mùa xuân;[1] nó nằm khoảng giữa Bahrain và Qatar,[2] trong vùng lãnh hải 12 dặm (19 km) của cả 2 nước.[3] Đây là một trong nhiều thực thể trên biển góp phần vào tranh chấp kéo dài giữa Bahrain và Qatar.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử, Qit'at Jaradah đã không được coi là một hòn đảo, Bahrain tuyên bố vào năm 2000 rằng diện tích cồn đo được khoảng 12 x 4 m (39 ft × 13 ft) khi thủy triều cao với độ cao khoảng 0,4 mét (1 ft 4 in), và 600 x 75 m (1,969 ft × 246 ft) khi thủy triều thấp.[4][5] Quan điểm đối lập là độ cao thấp.[6] Thực thể này không có người ở và không có thảm thực vật.[6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bahrain đầu tiên tuyên bố quyền sở hữu của cồn vào năm 1936, được hỗ trợ bởi Giải thưởng ranh giới hàng hải của Anh năm 1947 (British Maritime Boundary Award of 1947). Qit'at Jaradah sẽ ở trong vùng lãnh hải của Qatar tính từ đường cơ sở nếu không có sự phân chia giữa các quốc gia trong khu vực này. Người Anh bị ảnh hưởng bởi các hoạt động thực tế của các công ty dầu khí vào thời điểm đó.[6] Mặc dù được trao cho Bahrain, thực thể này không được phân loại là một hòn đảo có vùng lãnh hải cách 4,8 km. Điều này phù hợp với định nghĩa của một hòn đảo của Hội nghị Genève năm 1958 yêu cầu một hòn đảo trên mặt nước khi thủy triều lên cao. Tuy nhiên, vào năm 1959, người Anh đã cố gắng phân loại lại Qit'at Jaradah thành một hòn đảo, cũng như chính phủ Bahrain năm 1964. Qatar từ chối yêu cầu này vào năm 1965 và sau đó tìm kiếm trọng tài quốc tế.[1] Không có kết quả nào, vì hai nước không là thành viên của Liên Hợp Quốc cho đến năm 1971.[7] Vào năm 1986, Qatar đã tuyên bố một số khu vực tranh chấp, bao gồm Qit'at Jaradah, như các khu quân sự. Khi hai bên gần xung đột, căng thẳng đã giảm dưới áp lực từ Oman, Ả Rập Xê ÚtUAE để tiếp tục giữ nguyên hiện trạng. Ả rập Xê Út, qua Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh, đã cố gắng đàm phán một thỏa thuận vĩnh viễn nhưng không thành công. Năm 1991, Qatar lại tìm trọng tài từ Tòa án Tư pháp Quốc tế tại Hague.[1]

Tòa án phán quyết quốc tế năm 2003[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, Tòa án Tư pháp Quốc tế quyết định bởi một cuộc bỏ phiếu 12–5[8] rằng Qit'at Jaradah là một hòn đảo và chủ quyền thuộc về Bahrain, mặc dù có ý kiến ​​bất đồng ​​liệu nó có nên được coi là hòn đảo với kích thước nhỏ, đặc tính vật lý biến đổi và thiếu đất vững chắc.[9] Phán quyết của tòa án rằng "các hoạt động được thực hiện bởi Bahrain trên hòn đảo đó phải được coi là đủ để ủng hộ tuyên bố của Bahrain rằng nó có chủ quyền đối với nó."[6] Các hoạt động của Bahrain trên "hòn đảo" bao gồm việc đặt một ngọn hải đăng, điều khiển giếng khoan, cho phép đánh cá và khai thác dầu.[7] Kết luận này không thể đạt được nếu tòa án đã không phán quyết nó là một hòn đảo, vì chủ quyền có thể được thiết lập chỉ bằng chiếm đóng một hòn đảo, chứ không phải là tính độ cao thấp.[10] Qatar đã lập luận rằng nó chưa bao giờ được hiển thị trên các bảng kê điều hướng như một hòn đảo và thậm chí nếu không phải lúc nào cũng chìm hoàn toàn khi thủy triều cao, nó vẫn không được coi là một hòn đảo.[11]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Mojtahed-Zadeh, Pirouz (5 tháng 11 năm 2013). Security and Territoriality in the Persian Gulf: A Maritime Political Geography. Routledge. ISBN 1136817174. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017. 
  2. ^ Charney, Jonathan I.; Smith, Robert W. biên tập (2002). International Maritime Boundaries Volume IV. Kluwer Law International. tr. 2843. ISBN 90-411-1954-X. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017. 
  3. ^ Tanaka Yoshifumi (2006), Predictability and Flexibility in the Law of Maritime Delimitation, Studies in International Law 8, Bloomsbury Publishing, ISBN 9781847311177, truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017 
  4. ^ Tanaka Yoshifumi 2006, tr. 206
  5. ^ Dahlhoff 2012, tr. 844
  6. ^ a ă â b Dahlhoff, Guenther (2012), International Court of Justice: Digest of Judgments and Advisory Opinions, Canon and Case Law 1946 – 2012, Martinus Nijhoff Publishers, ISBN 9789004230620, truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2017 
  7. ^ a ă World Court Digest 2001 – 2005. Springer Science & Business Media. 2008. ISBN 9783540874676. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2017. 
  8. ^ Yearbook of the International Court of Justice 2000–2001. United Nations Publications. 2002. tr. 229. ISBN 9789211700787. 
  9. ^ Kwiatkowska, Barbara (2003). The Qatar V. Bahrain Maritime Delimitation and Territorial Questions Case. International Boundaries Research Unit. tr. 20. ISBN 9781897643495. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2017. 
  10. ^ Purdy, Ray; Leung, Denise biên tập (2012). Evidence from Earth Observation Satellites: Emerging Legal Issues. Martinus Nijhoff Publishers. ISBN 9789004234031. 
  11. ^ Tanaka, Yoshifumi (2015). The International Law of the Sea. Cambridge University Press. tr. 73. ISBN 9781316299814.