R3hab

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
R3hab
R3habpressphoto.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhFadil El Ghoul
Sinh2 tháng 4, 1986 (33 tuổi)
's-Hertogenbosch, Hà Lan
Nguyên quánHà Lan
Thể loại
Nghề nghiệp
  • DJ
  • Nhà sản xuất âm nhạc
Nhạc cụ
Năm hoạt động2008–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websitewww.djr3hab.com

Fadil El Ghoul (sinh ngày 2 tháng 4 năm 1986 tại Hertogenbosch), thường được biết đến với nghệ danh R3hab (phát âm là "rehab"). Anh là một DJ, nhà sản xuất âm nhạc người Hà Lan gốc Maroc.[2] Cùng với AfrojackChuckie, R3hab là một trong những người đề xướng thể loại "Dutch house" hiện đại, mặc dù phong cách và âm thanh của anh vào thời điểm đó thường trầm tối hơn, phần nào gợi nhớ lại những giai điệu ban đầu của anh. Trong năm 2012 tại WMCMiami, Hoa Kỳ, R3hab đã giành "Giải Nghệ sĩ đột phá nhất" của IDMA.[3]. Năm 2015, R3hab đang xếp thứ 21 trong danh sách DJ Top 100 của DJ Mag và không thay đổi vị trí vào năm 2016.[4]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

R3hab bắt đầu sự nghiệp của mình vào cuối năm 2007 với việc sản xuất ca khúc "Mrkrstft" với Hardwell. Một trong những người có ảnh hưởng chính đến R3hab là bộ đôi Infected Mushroom, những bài hát của họ đã xuất hiện trên thị trường quốc tế từ năm 1999.

Những phát hành đáng chú ý nhất của R3hab cho đến nay là "Pump The Party" được sản xuất cùng với Ferruccio Salvo, "The Bottle Song", phát hành trên Wall Recordings"Prutata", là sự hợp tác đầu tiên của R3hab với Afrojack.[5]

R3hab đã được ký hợp đồng với DJ nhà sản xuất Afrojack, để thu âm và phát hành trên nhãn Wall Recordings của Afrojack và R3hab là một trong những DJ tài năng nhất của hãng.

Vào năm 2012, R3hab bắt đầu chương trình radio hàng tuần của riêng mình trên SiriusXM, có tiêu đề "I NEED R3HAB".

R3hab được quản lý bởi Three Six Zero Group.

Năm 2016, anh tiếp tục giữ vị trí 21 trong dang sách DJ Top 100 do DJ Mag bình chọn, giữ nguyên so với năm 2015.[4]

Năm 2017, anh tăng 3 bậc từ vị trí 21 năm 2016 lên vị trí 18 trong DJ Top 100 do DJ Mag bình chọn.

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Sự kiện Năm Địa điểm
Ravvolution Music Festival 2016 Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò nghệ sĩ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm vị trí cao nhất Album
NLD
[6]
BEL
[7]
FRA
[8]
UK
[9]
"Get Get Down"
(with Addy van der Zwan)
2009 68 Không có
"Sending My Love"
(with Swanky Tunes featuring Max C)
2011
"Living 4 the City"
(with Shermanology)
2012
"Raise Those Hands"
(with Bassjackers)
2013
"Revolution"
(with NERVOUmmet Ozcan)
—* 163 37
"Samurai (Go Hard)" 2014
"Androids"
"Flashlight"
(with Deorro)
—**
"Unstoppable"
(featuring Eva Simons)
Beats of the Beautiful Game
"How We Party"
(with VINAI)
Không có
"Ready For the Weekend"
(with NERVO featuring Ayah Marar)
—***
"SoundWave"
(with Trevor Guthrie)
"Karate"
(with KSHMR)
84
"Phoenix"
(with Sander van Doorn)
2015
"Tiger"
(vs. Skytech and Fafaq)
"Won't Stop Rocking"
(with Headhunterz)
"Strong"
(with KSHMR)
"Hakuna Matata"
(Hardwell Edit)
"Get Up"
(with Ciara)
2016
"Near Me"
(with Burns)
"Freak"
(with Quintino)
63
"Care"
(with Felix Snow featuring Madi)
"Sakura"
"Icarus"
"Everything"
(with Skytech)
"Trouble"
(with Vérité)
2017
"Truth or Dare"
(featuring Little Daylight)
"—" Không tham gia bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại khu vực.

* Không xuất hiện trên bảng xếp hạng Ultratop của Bỉ, nhưng đạt vị trí cao nhất là 26 trên bảng xếp hạng Ultratip.
** Không xuất hiện trên bảng xếp hạng Ultratop của Bỉ, nhưng đạt vị trí cao nhất là 54 trên bảng xếp hạng Ultratip.
*** Không xuất hiện trên bảng xếp hạng Ultratop của Bỉ, nhưng đạt vị trí cao nhất là 56 trên bảng xếp hạng Ultratip.

Vai trò nghệ sĩ hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Vị trí cao nhất Certifications Album
AUS US
Dance
"You'll Be Mine"
(Havana Brown featuring R3hab)
2012 When the Lights Go Out
"Big Banana"
(Havana Brown featuring R3hab and Prophet)
18 1
"WAVE"[cần dẫn nguồn]
(Amber & Luna featuring R3hab)
2016
"—" Không tham gia bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại khu vực.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hamersly, Michael (ngày 15 tháng 3 năm 2016). “Get ready to do Miami Music Week like a baller with all-access wristbands to sold out events”. Miami.com. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ “R3hab Chainsaws Katy Perry’s ‘The One That Got Away’”. Newsroom.mtv.com. Ngày 16 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ “IDMA's - 2013 IDMA Nominees FOR 2012 - Winter Music Conference 2014 - WMC 2014 Best remixer winner”. Wintermusicconference.com. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  4. ^ a ă “Poll 2016: R3hab”. 
  5. ^ “Afrojack & R3hab / Afrojack & Quintino - Aces High (Prutata) / Selecta”. Discogs (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2017. 
  6. ^ “Discografie R3HAB”. Dutch Charts Portal. Hung Medien. 
  7. ^ “Discografie R3HAB”. Belgium (Flanders) Charts Portal. Hung Medien. 
  8. ^ “Discographie R3HAB”. French Charts Portal. Hung Medien. 
  9. ^ “R3HAB/NERVO/UMMET OZCAN | full Official Chart History”. Officialcharts.com/. Official Charts Company. 
  10. ^ “ARIA Australian Top 20 Dance Tracks”. ARIA Charts. Ngày 10 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]