Danh sách nhân vật trong InuYasha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Rin (Inu Yasha))
Bước tới: menu, tìm kiếm

Danh sách nhân vật trong mangaanime Inu Yasha.

Nhân vật chính diện[sửa | sửa mã nguồn]

Inuyasha (Khuyển Dạ Xoa)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Kappei Yamaguchi (tiếng Nhật); Richard Ian Cox (tiếng Anh)

Kagome Higurashi (Nhật Mộ Li)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Satsuki Yukino (tiếng Nhật); Moneca Stori (original series, movies, games: tiếng Anh)

Miroku (Di Lặc)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Kōji Tsujitani (tiếng Nhật); Kirby Morrow (tiếng Anh)

Sango (San Hô)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Houko Kuwashima (tiếng Nhật); Kelly Sheridan (tiếng Anh)

Shippō (Thất Bảo)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Kumiko Watanabe (tiếng Nhật); Jillian Michaels (tiếng Anh)

Kirara (Vân Mẫu)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Tarako

Nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Kikyo (Cát Cánh)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Noriko Hidaka (tiếng Nhật); Willow Johnson (tiếng Anh)

Myoga (Minh Gia)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Kenichi Ogata (tiếng Nhật); Paul Dobson (tiếng Anh)

Tōtōsai (Đao Đao Trai)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Jōji Yanami (tiếng Nhật); Richard Newman (tiếng Anh)

Kohaku (Hổ Phách)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Akiko Yajima (tiếng Nhật)

Kaede[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Hisako Kyoda (tiếng Nhật); Pam Hyatt (original series, movies, games: tiếng Anh); Linda Darlow (The Final Act: tiếng Anh)

Kaede (楓, Phụng Lão Lão) là em gái của Kikyo, bà bị mất một mắt do Kikyo vô ý bắn tên vào trong lúc hai người đang chiến đấu với yêu quái để bảo vệ ngôi làng. Sau 50 năm, Kaede trở thành pháp sư của ngôi làng mà bà sinh sống và được mọi người trong làng gọi là Phụng lão bà bà (kaede-sama). Khi nhìn thấy Kagome, Kaebe đã nhận ra cô chính là kiếp sau của chị gái Kikyo đã chết. Bà cũng là người đeo chuỗi hạt (Subjugation Beads) của Kikyo lên cổ Inuyasha và giao cho Kagome quản lý khi Inuyasha nóng nảy.

Trong tập cuối của The Final Act, Kaebe sống chung với Rin giữa lúc Sango sinh được một bé trai, bà cũng được Kagome chỉ dẫn để trở thành một nữ tu sĩ thật thụ.

Nhóm của Sesshōmaru[sửa | sửa mã nguồn]

Sesshomaru (Sát Sinh Hoàn)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Ken Narita (tiếng Nhật); David Kaye (original series, movies, games: tiếng Anh)

Jaken[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Yuichi Nagashima (tiếng Nhật); Don Brown (tiếng Anh)

Rin[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Mamiko Noto (tiếng Nhật); Brenna O'Brien (tiếnh Anh)

A-Un[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm của Koga[sửa | sửa mã nguồn]

Koga (Cương Nha)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Taiki Matsuno (tiếng Nhật); Scott McNeil (tiếng Anh)

Ginta (Ngân Thái) và Hakkaku (Bạch Giác)[sửa | sửa mã nguồn]

Ginta: Hiroyuki Yoshino (tiếng Nhật); Paul Dobson (tiếng Anh)
Hakkaku: Daisuke Kishio (tiếng Nhật); Alistair Abell (tiếng Anh)

Ayame (Xương Bồ)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Yumi Kakazu (tiếng Nhật); Natalie Walters (tiếng Anh)

Kai[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Yuka Nishigaki (tiếng Nhật)

Shinta[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Momoko Saitō

Hachiemon (Bát Vệ Môn)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Toshihiko Nakajima (tiếng Nhật); Terry Klassen (tiếng Anh)

Hachiemon là một con tanuki phục vụ cho Miroku. Hachi không có vũ khí và khả năng chiến đấu nên ông thường làm phương tiện di chuyển vì ông có thể bay được khi biến thành một quả bầu vàng khổng lồ.

Jinenji[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Hisao Egawa (tiếng Nhật); Michael Dobson (tiếng Anh)

Shiori[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Kaori Mizuhashi (tiếng Nhật); Nicole Bouma (tiếng Anh)

Goryomaru[sửa | sửa mã nguồn]

Inukimi[sửa | sửa mã nguồn]

Inu no Taisho[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Akio Otsuka (tiếng Nhật); Don Brown (tiếng Anh)

Inu no Taisho (犬の船長, Khuyển Đại Tướng) là chúa tể của yêu quái cai trị Tây Vực, ông cha của Sesshōmaru và Inuyasha và có hai người vợ. Tên thật của ông không được nêu rõ trong cả manga và anime, bản thân tác giả Takahashi Rumiko cũng không cho biết chuyện này, "Inu no Taisho" thực ra chỉ là tên gọi thông dụng mà các độc giả đặt cho ông, nhằm thể hiện tước vị của nhân vật này, khuôn mặt của ông cũng do các nhà làm phim sáng tạo ra dựa trên gợi ý của tác giả. Inu no Taisho có khả năng hấp thụ sức mạnh của đối phương, ông cũng sở hữu hai thanh kiếm là Thiết Toái Nha và Thiên Sinh Nha. Trong đó, Thiết Toái Nha được làm từ răng của ông và giao cho Inuyasha, thanh kiếm được bao phủ bởi một kết giới ngăn cản những yêu quái có ác cảm với con người động vào, vì vậy Sesshomaru không chạm tay vào được. Còn Thiên Sinh Nha thì giao cho Sesshomaru, thanh kiếm cũng được làm từ răng của ông. Theo lời kể của Myoga, Inu no Taisho chết sau khi phong ấn Ryūkotsusei.

Izayoi[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Kikuko Inoue (tiếng Nhật); Alaina Burnett (tiếng Anh)

Izayoi (十六夜, Thập Lục Dạ) là người con gái của một nhà quý tộc nghèo, cô yêu Inu no Taisho và là mẹ của Inuyasha. Rất ít thông tin cho biết về gia đình, tuổi tác hoặc thậm chí cái chết của bà. Theo lời kể của Inuyasha thì bà đã qua đời "cách đây khá lâu" và cái chết của người mình "không phải do lỗi của bà ấy". Khi sinh ra Inuyasha, bà bị mọi người khinh rẻ vì đã sinh ra một bán yêu; bao khó khăn, đau khổ mà bà phải gánh chịu đã tạo nên một góc tối trong khuôn mặt cũng như trong tâm hồn của Izayoi. Sau khi chết, Inuyasha thừa hưởng chiếc áo khoác Chuột lửa (được làm từ lông của yêu quái chuột lửa huyền thoại Hinezumi).

Hosenki (Bảo Tiên Quỷ)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật phản diện[sửa | sửa mã nguồn]

Naraku (Nại Lạc)[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Hiroshi Yanaka, Toshiyuki Morikawa (tiếng Nhật); Paul Dobson (tiếng Anh)

Các phân thân của Naraku[sửa | sửa mã nguồn]

Kagura (Thần Lạc)[sửa | sửa mã nguồn]

Kanna[sửa | sửa mã nguồn]

Kanna (神無, Vô Thần) là phân thân đầu tiên của Naraku, cô có vẻ ngoài là một cô bé khoảng 10 tuổi với trang phục màu trắng, khuôn mặt lạnh, không có cảm xúc, trên tay luôn cầm chiếc gương Đoạt Hồn. Kanna rất chung thành, chỉ biết nghe và thực hiện lệnh nên Naraku thường giao nhiều nhiệm vụ quan trọng cho cô thực hiện. Cuối chương 146, Naraku xác nhận Kanna là "chị cả" của toàn bộ các phân thân của Naraku và cũng là phân thân sống lâu nhất. Gương Đoạt Hồn của Kanna như là một quả cầu pha lê có khả năng nhìn thấy bất cứ thứ gì, có thể có hút linh hồn của người khác, qua đó khống chế những người này. Chiếc gương cũng có khả năng đánh bậc các đòn tấn công của đối thủ. Khi Naraku buộc cô phải tự phát nổ và cùng chết với nhóm Inuyasha nhưng Kanna chỉ tự nổ mình mà không giết họ (do Inuyasha từng tha chết cho cô và cô bắt đầu có cảm xúc). Hơn nữa, trước lúc chết, Kanna bắn một mảnh vỡ vào mắt Kagome và tiết lộ rằng điểm sáng nằm trong mảnh ngọc Tứ Hồn của Naraku chính là tử huyệt của Naraku.

Goshinki (Quỷ Ngộ Tâm)[sửa | sửa mã nguồn]

Juromaru và Kageromaru[sửa | sửa mã nguồn]

Muso[sửa | sửa mã nguồn]

The Infant (Akago) và Moryomaru[sửa | sửa mã nguồn]

Hakudoshi[sửa | sửa mã nguồn]

Byakuya[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Mitsuaki Madono (tiếng Nhật); Michael Adamthwaite (tiếng Anh)

Byakuya (夢幻の白夜, Mugen no Byakuya, Bạch Dạ Mộng Ảo) là phân thân cuối cùng của Naraku, anh là một loài bướm Demon, có nhiệm vụ chủ yếu là quan sát nhóm Inuyasha về báo cáo cho Naraku. Byakuya và Naraku tương thích với nhau, nếu Naraku bị chấn thương nặng thì cơ thể của Byukuya sẽ bị thương nghiêm trọng.

Magatsuhi[sửa | sửa mã nguồn]

Ryūkotsusei[sửa | sửa mã nguồn]

Ryūkotsusei (竜骨精, Long Cốt Tinh) là một yêu quái rồng màu xám, có lớp da cực kì rắn chắc và trên trán có một khuôn mặt với khả năng phun ra quả cầu năng lượng khổng lồ. Ryūkotsusei được Naraku giải phong ấn sau khi bị Inu no Taishou (cha của Inuyasha) phong ấn 250 năm. Ryūkotsusei bị tiêu diệt bởi tiệt chiêu "Bộc Lưu Phá" của Inuyasha, đây cũng là lần đầu tiên Inuyasha thực hiện tiệt chiêu này.

Entei[sửa | sửa mã nguồn]

The Band of Seven (Bảy Vong Hồn)[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy Vong Hồn (七人隊, Shichinintai) gồm bảy người lính đánh thuê đã bị thiệt mạng, họ được hồi sinh nhờ các mảnh ngọc Tứ Hồn của Naraku và trở thành vong hồn. Sau khi sống lại, Bảy Vong Hồn làm theo mệnh lệnh của Naraku. Bảy người có những vũ khí và khả năng riêng biệt.

Kyokotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Daisuke Gōri (tiếng Nhật); Mark Gibbon (tiếng Anh)

Kyokotsu (凶骨, Kyōkotsu, Cốt Khổng Lồ - Hung Cốt) là vong hồn trong Bảy Vong Hồn xuất hiện đầu tiên. Tuy là con người nhưng Kyokotsu lại biến thành quỷ nhờ mảnh ngọc Tứ Hồn. Sau Kyokotsu bị Koga tiêu diệt.

Jakotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Ai Orikasa (tiếng Nhật); Jenn Forgie (tiếng Anh)

Jakotsu (蛇骨, Cốt Rắn - Xà Cốt) là vong hồn nữ duy nhất trong Bảy Vong Hồn, cô rất trung thành với Bankotsu (thủ lĩnh của Bảy Vong Hồn). Trong lần gặp đầu tiên, Jakotsu đã thích Inuyasha. Vũ khí của Jakotsu là một thanh kiếm khi chém ra tạo thành nhiều lưỡi kiếm nối lại với nhau như một con rắn, có thể thay đổi hướng đi tùy ý, gây khó khăn cho đối thủ. Sau khi bị Inuyasha đánh bị thương nặng, Renkotsu đã lấy mảnh ngọc của cô làm cô biến mất (chết).

Mukotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Tetsu Inada (tiếng Nhật); Trevor Devall (tiếng Anh)

Kyokotsu (霧骨, Cốt S­­ương Mù) là vong hồn trong Bảy Vong Hồn, là yêu quái chuyên sản xuất và dùng độc dược làm vũ khí. Kyokotsu được xem là yêu quái yếu nhất trong Bảy Vong Hồn, sau bị Sesshōmaru tiêu diệt.

Renkotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Tomokazu Sugita (tiếng Nhật); Brian Drummond (tiếng Anh)

Renkotsu (煉骨, Cốt Nung - Luyện Cốt) là vong hồn trong Bảy Vong Hồn nhưng lại có ý định phản bội bằng cách thu thập các mảnh ngọc Tứ Hồn. Sau khi bị phát hiện, Renkotsu bị Bankotsu giết. Vũ khí của Renkotsu là một hồ lô đựng dầu để hắn ngậm và phun ra lửa, một khẩu pháo và dây thép lửa.

Ginkotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Hisao Egawa (tiếng Nhật); Mark Gibbon (tiếng Anh)

Ginkotsu (銀骨, Cốt Bạc - Ngân Cốt) là vong hồn bằng cổ máy trong Bảy Vong Hồn với nhiều vũ khí khác nhau như lưỡi cưa, dây thép, súng thần công... Sau khi bị Inuyasha tiêu diệt, Ginkotsu được Renkotsu tái tạo lại với hình dạng giống như một chiếc xe thần công. Sau Ginkutsu tự hủy để chết cùng Koga nhưng Koga không chết, mảnh ngọc Tứ Hồn thì giao cho Renkotsu.

Suikotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Hiroaki Hirata (tiếng Nhật); Michael Donovan (tiếng Anh)

Suikotsu (睡骨, Cốt Ngủ - Thụy Cốt) là một vong hồn có hai tính cách: lương thiện và tà ác cùng nằm trong một cơ thể. Sau khi được hồi sinh, mặt tốt của Suikotsu thức tỉnh giúp anh trở thành một thầy thuốc hiền lành và lương thiện. Nhưng Renkotsu và Jakotsu đã làm mặt tốt của anh bị mặt ác đàn áp làm anh trở thành một vong hồn tà ác. Khi bị Sesshōmaru và Kikyo đánh bại, Suikotsu yêu cầu được chết trong hòa bình, Kikyo đã giúp anh đạt ý muốn nhưng mảnh ngọc Tứ Hồn thì rơi vào tay Bankotsu.

Bankotsu[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng bởi: Takeshi Kusao (tiếng Nhật); Matt Hill (tiếng Anh)

Bankotsu (蛮骨, Cốt Ác - Man Cốt) là thủ lĩnh của Bảy Vong Hồn, cũng là thành viên mạnh nhất nhóm, anh rất quan tâm đến các thành viên trong nhóm. Vũ khí của Bankotsu là một thanh kiếm tên Banryu (蛮竜), nó đã giết được 1000 yêu quái và 1000 lãnh chúa để có sức mạnh. Sau một cuộc chiến với Inuyasha, Banryu đã bị nứt; Kanna đã chỉ cho anh biết cách tăng sức mạnh và làm liền viết nứt cho thanh kiếm bằng hai mảnh ngọc Tứ Hồn của Kagome mà Renkotsu đã cướp. Khi nhóm Inuyasha đến núi Bạch Linh Sơn (Hakurei), Bankotsu đã giết và lấy các mảnh ngọc của Renkotsu vì hắn đã phản bội nhóm. Bankotsu là thành viên cuối cùng trong Bảy Vong Hồn còn sống, nhưng anh cũng bị đánh bại bởi Bộc Lưu Phá của Inuyasha.

Nhân vật hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình của Kagome[sửa | sửa mã nguồn]

Mẹ[sửa | sửa mã nguồn]

Em trai[sửa | sửa mã nguồn]

Sota Higurashi (日暮草太, Higurashi Sōta, Nhật Mộ Thảo Thái) là em trai của Kagome. Cậu là một người hồn nhiên, trong sáng, tốt bụng, nghịch ngợm. Sota Higurashi có một cô bạn gái tên Hitomi (Đồng Mâu).

Ông[sửa | sửa mã nguồn]

Bạn bè của Kagome[sửa | sửa mã nguồn]

Yuka, Ayumi vaw Eri[sửa | sửa mã nguồn]

Hojo[sửa | sửa mã nguồn]

Một số hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]