Risperidone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Risperidone.svg
Risperidone-3D-balls.png
Dược phẩm
Tên IUPAC hệ thống
3-[2-[4-(6-fluoro-1,2-benzoxazol-3-yl)piperidin-1-yl]ethyl]-2-methyl-6,7,8,9-tetrahydropyrido[1,2-a]pyrimidin-4-one
Nhận dạng
Số CAS 106266-06-2
Mã ATC N05AX08
PubChem 5073
DrugBank DB00734
Dữ liệu hóa chất
Công thức C23H27FN4O2 
Phân tử gam 410.485 g/mol
SMILES tìm trong eMolecules, PubChem
Dữ liệu dược động lực học
Sinh khả dụng 70% (đường miệng)[1]
Chuyển hóa Gan (CYP2D6 chuyển thành dạng trung gian 9-hydroxyrisperidone)[1]
Bán thải 20 giờ (đường miệng), 3–6 ngày (IM)[1]
Bài tiết Nước tiểu (70%) phân (14%)[1]
Lưu ý trị liệu
Phạm trù thai sản

B3(AU) C(US)

Tình trạng pháp lý

Thuốc kê đơn (S4)(AU) ?(CA) POM(UK) -only(US)

Dược đồ Qua đường miệng (dạng viên hoặc dạng dung dịch), IM

Risperidone, được bán dưới tên thương mại Risperdal cùng với một số những tên khác, là một loại thuốc chống loạn thần.[1]Chúng chủ yếu được sử dụng để điều trị tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, và khó chịu ở những người bị chứng tự kỷ. [1] Thuốc có thể được uống qua miệng hoặc tiêm vào cơ bắp. [1] Phiên bản tiêm có tác dụng dài hơn và kéo dài trong khoảng hai tuần. [2]

Tác dụng phụ thường gặp bao gồm các vấn đề về vận động, buồn ngủ, chóng mặt, khó nhìn, táo bón và tăng cân.[1][3] Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể có như một số rối loạn vận động có thể vĩnh viễn, cùng với một số hội chứng ác tính thần kinh, tăng nguy cơ tử vong và tăng đường huyết. [1][2] Ở những người lớn tuổi bị rối loạn tâm thần do chứng mất trí, chúng có thể làm tăng nguy cơ tử vong. [1]Mức độ an toàn nếu sử dụng thuốc trong thời kỳ mang thai vẫn là chưa rõ ràng. [1] Risperidone là một thuốc chống loạn thần không điển hình. [1]Cơ chế hoạt động của nó không hoàn toàn rõ ràng, nhưng được cho là có liên quan đến tác dụng với vai trò một chất đối kháng dopaminechất đối kháng serotonin. [1]

Nghiên cứu của risperidone bắt đầu vào cuối những năm 1980 và đã được phê duyệt để bán tại Hoa Kỳ vào năm 1993.[1][4] Nó nằm trong danh sách các thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, tức là nhóm các loại thuốc hiệu quả và an toàn nhất cần thiết trong một hệ thống y tế. [5] Risperidone có sẵn dưới dạng thuốc gốc.[2] Giá bán buôn ở các nước đang phát triển là từ 0,01 đến 0,60 USD cho mỗi ngày tính đến năm 2014. [6] Chi phí cho một tháng thuốc điển hình ở Hoa Kỳ là từ 100 đến 200 USD tính đến năm 2015. [2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l “Risperidone”. The American Society of Health-System Pharmacists. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  2. ^ a ă â b Hamilton R (2015). Tarascon Pocket Pharmacopoeia 2015 Deluxe Lab-Coat Edition. Jones & Bartlett Learning. tr. 434–435. ISBN 9781284057560. 
  3. ^ Hasnain M, Vieweg WV, Hollett B (tháng 7 năm 2012). “Weight gain and glucose dysregulation with second-generation antipsychotics and antidepressants: a review for primary care physicians”. Postgraduate Medicine 124 (4): 154–67. PMID 22913904. doi:10.3810/pgm.2012.07.2577. 
  4. ^ Schatzberg AF, Nemeroff CB (2009). The American Psychiatric Publishing textbook of psychopharmacology (ấn bản 4). Washington, D.C.: American Psychiatric Pub. tr. 627. ISBN 9781585623099. 
  5. ^ “WHO Model List of Essential Medicines (19th List)” (PDF). World Health Organization. Tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  6. ^ “Risperidone”. International Drug Price Indicator Guide. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.