Risperidone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Risperidone
Risperidone.svg
Risperidone-3D-balls.png
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mạiRisperdal, tên khác[1]
AHFS/Drugs.comChuyên khảo
MedlinePlusa694015
Danh mục cho thai kỳ
  • AU: B3
  • US: C (Rủi ro không bị loại trừ)
Dược đồ sử dụngQua đường miệng (dạng viên hoặc dạng dung dịch), IM
Mã ATC
Tình trạng pháp lý
Tình trạng pháp lý
Dữ liệu dược động học
Sinh khả dụng70% (đường miệng)[2]
Chuyển hóa dược phẩmGan (CYP2D6 chuyển thành dạng trung gian 9-hydroxyrisperidone)[2]
Chu kỳ bán rã sinh học20 giờ (đường miệng), 3–6 ngày (IM)[2]
Bài tiếtNước tiểu (70%) phân (14%)[2]
Các định danh
Số đăng ký CAS
PubChem CID
IUPHAR/BPS
DrugBank
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
KEGG
ChEBI
ChEMBL
Phối tử ngân hàng dữ liệu protein
ECHA InfoCard100.114.705
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa họcC23H27FN4O2
Khối lượng phân tử410.485 g/mol
Mẫu 3D (Jmol)
  (kiểm chứng)

Risperidone, được bán dưới tên thương mại Risperdal cùng với một số những tên khác, là một loại thuốc chống loạn thần.[2] Chúng chủ yếu được sử dụng để điều trị tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, và khó chịu ở những người bị chứng tự kỷ.[2] Thuốc có thể được uống qua miệng hoặc tiêm vào cơ bắp.[2] Phiên bản tiêm có tác dụng dài hơn và kéo dài trong khoảng hai tuần.[3]

Tác dụng phụ thường gặp bao gồm các vấn đề về vận động, buồn ngủ, chóng mặt, khó nhìn, táo bón và tăng cân.[2][4] Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể có như một số rối loạn vận động có thể vĩnh viễn, cùng với một số hội chứng ác tính thần kinh, tăng nguy cơ tử vong và tăng đường huyết.[2][3] Ở những người lớn tuổi bị rối loạn tâm thần do chứng mất trí, chúng có thể làm tăng nguy cơ tử vong.[2] Mức độ an toàn nếu sử dụng thuốc trong thời kỳ mang thai vẫn là chưa rõ ràng.[2] Risperidone là một thuốc chống loạn thần không điển hình.[2] Cơ chế hoạt động của nó không hoàn toàn rõ ràng, nhưng được cho là có liên quan đến tác dụng với vai trò một chất đối kháng dopaminechất đối kháng serotonin.[2]

Nghiên cứu của risperidone bắt đầu vào cuối những năm 1980 và đã được phê duyệt để bán tại Hoa Kỳ vào năm 1993.[2][5] Nó nằm trong danh sách các thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, tức là nhóm các loại thuốc hiệu quả và an toàn nhất cần thiết trong một hệ thống y tế.[6] Risperidone có sẵn dưới dạng thuốc gốc.[3] Giá bán buôn ở các nước đang phát triển là từ 0,01 đến 0,60 USD cho mỗi ngày tính đến năm 2014.[7] Chi phí cho một tháng thuốc điển hình ở Hoa Kỳ là từ 100 đến 200 USD tính đến năm 2015.[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Drugs.com International trade names for risperidone Lưu trữ 2016-03-18 tại Wayback Machine Page accessed ngày 15 tháng 3 năm 2016
  2. ^ a b c d e f g h i j k l m n “Risperidone”. The American Society of Health-System Pharmacists. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015.
  3. ^ a b c d Hamilton R (2015). Tarascon Pocket Pharmacopoeia 2015 Deluxe Lab-Coat Edition. Jones & Bartlett Learning. tr. 434–435. ISBN 9781284057560.
  4. ^ Hasnain M, Vieweg WV, Hollett B (tháng 7 năm 2012). “Weight gain and glucose dysregulation with second-generation antipsychotics and antidepressants: a review for primary care physicians”. Postgraduate Medicine. 124 (4): 154–67. doi:10.3810/pgm.2012.07.2577. PMID 22913904.
  5. ^ Schatzberg AF, Nemeroff CB (2009). The American Psychiatric Publishing textbook of psychopharmacology (ấn bản 4). Washington, D.C.: American Psychiatric Pub. tr. 627. ISBN 9781585623099.
  6. ^ “WHO Model List of Essential Medicines (19th List)” (PDF). World Health Organization. tháng 4 năm 2015. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
  7. ^ “Risperidone”. International Drug Price Indicator Guide. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.