Roger M. Ramey

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Roger Maxwell Ramey
Roger Ramey.jpg
Tiểu sử
Sinh(1905-09-09)9 tháng 9, 1905
Sulphur Springs, Texas
Mất4 tháng 3, 1963(1963-03-04) (57 tuổi)
Torrance, California
Binh nghiệp
Phục vụHoa Kỳ Mỹ
Năm tại ngũ1928–1957
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Chỉ huyPhi đội Truy kích số 38
Không quân thứ Tám
Không quân thứ Năm
Tham chiếnThế chiến II
Khen thưởngThập tự Quân ngũ Xuất sắc[1]
Huân chương Quân ngũ Xuất sắc
Huân chương Công trạng
Thập tự Bay Xuất sắc

Roger Maxwell Ramey (ngày 9 tháng 9 năm 1905 – ngày 4 tháng 3 năm 1963) là sĩ quan người Mỹ đạt cấp bậc Trung tướng trong Không quân Hoa Kỳ. Ông nghỉ hưu vào tháng 1 năm 1957 vì bệnh tim và mất sáu năm sau đó.

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ramey chào đời tại Sulphur Springs, Texas. Ông định theo học Trường Đại học Sư phạm Bắc Texas và mong muốn hành nghề y, nhưng bị viên đại úy Lực lượng Vệ binh Quốc gia thuyết phục tranh tài trong kỳ thi tuyển một suất ở West Point. Ông đăng ký nhập học tại West Point vào năm 1924 và tốt nghiệp ra trường với cấp bậc thiếu úy năm 1928.[2]

Sau khi tốt nghiệp khóa học sĩ quan West Point, Ramey ghi danh vào Trường Bay Sơ cấp Không lực và tốt nghiệp Trường Bay Cao cấp Không lực vào tháng 9 năm 1929.[3]

Giữa hai thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Ông từng gia nhập Phi đội Truy kích số 27 ở Michigan và vào năm 1932 thì được bổ nhiệm làm sĩ quan chỉ huy Phi đội Truy kích số 38. Về sau ông đổi sang đảm nhận công tác huấn luyện bay tại Randolph Field, Texas.[3]

Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 1942 trong thời gian nước Mỹ tham gia vào Thế chiến thứ hai, Ramey trở thành sĩ quan kế hoạch và huấn luyện của Bộ Tư lệnh Oanh tạc cơ số 7.[3] Tháng sau, ông được thăng cấp Đại tá.[2] Tháng 10 năm 1942, ông chuyển sang Lực lượng Không quân thứ Năm với chức vụ sĩ quan chỉ huy Liên đoàn Oanh tạc cơ số 43 và Không đoàn Oanh tạc cơ số 314.[3]

Hoạt động thời hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian diễn ra vụ thử nghiệm hạt nhân tại đảo san hô vòng Bikini trong Chiến dịch Crossroads năm 1946, Ramey là giám đốc chỉ đạo vụ bắn "Able" kiêm chức Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 1.5.[2][3]

Ramey đảm nhận quyền chỉ huy Lực lượng Không quân thứ Tám trên cương vị là Chuẩn tướng tạm thời vào tháng 1 năm 1947. Ông cũng là Tư lệnh Căn cứ Không quân Carswell mà sau này gọi là Sân bay Lục quân Fort Worth.[3] Ông chịu trách nhiệm đảo ngược lập trường về bản chất của chiếc phi thuyền bị rơi trong biến cố UFO ở Roswell sau đó vào năm 1947.[4] Ông gây tiếng vang nhờ ảnh chụp đang cầm chiếc telex trên tay vào ngày 8 tháng 7 năm 1947 mà các nhà nghiên cứu UFO tin rằng có thể xác nhận một sự che đậy. Bức ảnh trở thành đối tượng được phân tích nhiều với ít kết quả thuyết phục.[5]

Tháng 5 năm 1954, Ramey nắm quyền Tư lệnh Lực lượng Không quân thứ Năm tại Hàn Quốc,[2] và được thăng cấp Trung tướng tạm thời vào tháng 6 năm 1954.[3]

Hưu trí[sửa | sửa mã nguồn]

Ramey nghỉ hưu vào ngày 31 tháng 1 năm 1957 vì bệnh tim.[2] Ông mất ngày 4 tháng 3 năm 1963 tại Torrance, California.[2]

Tóm lược chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Quân hàm theo niên đại[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tài liệu:[3][6]

Army-USA-OR-05 (Army greens).svg

TX ARNG.png
Trung sĩ, Lực lượng Vệ binh Quốc gia Lục quân Texas

- Trước năm 1924

US-O1 insignia.svg

US-Cavalry-Branch-Insignia.png
Thiếu uý, Kỵ binh:

- Thường trực: Ngày 9 tháng 6 năm 1928

US-O2 insignia.svg

Prop and wings.svg
Trung úy, Không lực:

- Thường trực: Ngày 1 tháng 9 năm 1934

US-O3 insignia.svg

Prop and wings.svg
Đại úy, Không lực:

—Thường trực: Ngày 9 tháng 6 năm 1938

US-O4 insignia.svg

Prop and wings.svg
Thiếu tá, Không lực:

—Tạm thời: Ngày 31 tháng 1 năm 1941
—Thường trực: Ngày 9 tháng 6 năm 1945

US-O5 insignia.svg

Prop and wings.svg
Trung tá, Không lực:

—Tạm thời: Ngày 5 tháng 1 năm 1942

US-O6 insignia.svg

Prop and wings.svg
Đại tá, Không lực:

—Tạm thời: Ngày 1 tháng 3 năm 1942
—Thường trực: Ngày 2 tháng 4 năm 1948

US-O7 insignia.svg
Chuẩn tướng:

—Tạm thời: Ngày 1 tháng 7 năm 1943
—Thường trực: Ngày 11 tháng 6 năm 1948;

US-O8 insignia.svg
Thiếu tướng:

—Tạm thời: Ngày 29 tháng 10 năm 1947
—Thường trực: Ngày 21 tháng 7 năm 1952

US-O9 insignia.svg
Trung tướng:

—Tạm thời: Tháng 6 năm 1954

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Roger Ramey - Recipient -”.
  2. ^ a b c d e f “Ramey, Roger M.”. The Pacific War Online Encyclopedia. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  3. ^ a b c d e f g h “LT. GEN. ROGER M. RAMEY”. U.S. Air Force > Biography display. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  4. ^ “Rancher surprised at excitement over his debris discovery near Roswell”. El Paso Times. 12 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  5. ^ Randle, Kevin D. (2016). Roswell in the 21st Century. Naples, Florida: Speaking Volumes, LLC. ISBN 9781628155129.
  6. ^ “Lt Gen Roger Maxwell Ramey”.