Rubus allegheniensis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rubus allegheniensis
Rubus allegheniensis NRCS-011.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Rosales
Họ (familia)Rosaceae
Chi (genus)Rubus
Loài (species) R. allegheniensis
Hoa của R. allegheniensis
Lá của R. allegheniensis

Rubus allegheniensis là một loài thực vật có hoa thuộc chi Mâm xôi, thường được gọi là mâm xôi Allegheny, mâm xôi Graves hay mâm xôi thường. Loài này rất phổ biến ở miền đông và trung tâm Bắc Mỹ[1], mặc dù một số quần thể của R. allegheniensis cũng được phát hiện tại CaliforniaBritish Columbia (tây Bắc Mỹ)[1][2].

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

R. allegheniensis là loại cây bụi cao, từ 1,5 đến 1,8 mét, hiếm khi vượt quá 2,5 mét, bề ngang của nó tầm 2,5 mét trở lên, tạo thành bụi dày đặc. Thân cây ban đầu có màu xanh lá, có khi là màu nâu đỏ với những cái gai nhọn, thẳng hoặc hơi cong. Lá mọc xen kẽ, hình trứng và có răng cưa ở mép lá, cuống lá dài, dài hơn 10 cm và rộng gần 8 cm, có lông thưa thớt ở mặt trên, trong khi mặt dưới của lá có màu xanh nhạt hơn nhưng dày lông hơn mặt trên. Hoa có 5 cánh màu trắng muốt, gần như tròn, thường nhăn, không phẳng, lưỡng tính, có 5 lá đài màu xanh tươi ngắn hơn cánh hoa, mỗi cánh dài khoảng 2 – 3 cm; cuống hoa có những sợi lông màu trắng; mỗi hoa có rất nhiều nhị với các bao phấn màu vàng. Hoa nở vào cuối mùa xuân đến đầu mùa hè (tháng 5 đến tháng 7), không có mùi thơm. Quả hạch chín vào cuối hè, có đường kính khoảng 12 mm và dài đến 3 cm; ban đầu có màu trắng xanh, nhưng khi chín có màu đỏ tươi hoặc tím, cuối cùng trở thành màu đen tuyền, vị rất ngọt[3][4][5][6][7].

R. allegheniensis thường thấy ở những khu đồng cỏ, cây bụi, rừng thưa, ven đường, có thể mọc trên đất sét hoặc đất đá cứng. Đây là một loài cây bụi xâm lấn, khó loại bỏ nếu không dùng đúng thuốc diệt cỏ phù hợp. R. allegheniensis sinh trưởng mạnh mẽ sau những trận cháy rừng và khi nhận được ánh sáng đầy đủ[4][8][9].

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nước sắc của rễ R. allegheniensis có thể được dùng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêu hóa, cảm lạnh, thấp khớp, bệnh lao, đau mắt, lợi tiểu, phụ nữ bị dọa sảy. Quả có thể sống, nấu chín hoặc sấy khô; được dùng để tạo thuốc nhuộm màu tím hoặc xanh dương đậm. Đây là cũng là nguồn thực phẩm quan trọng đối với các loài động vật có vú, chim chóc và gà rừng. Đây cũng là nơi trú ẩn cho những loài sóc, thỏ và chim[3][4].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă "Rubus allegheniensis". Natural Resources Conservation Service PLANTS Database. USDA
  2. ^ “Biota of North America Program 2014 county distribution map”. 
  3. ^ a ă “Common Blackberry (Rubus allegheniensis)”. 
  4. ^ a ă â Plants For A Future: Rubus allegheniensis - Porter.
  5. ^ Rubus allegheniensis Porter”. 
  6. ^ "Common Blackberry (Rubus allegheniensis)". Missouri Department of Conservation Field Guide. Missouri Department of Conservation
  7. ^ “Flora of North America, Rubus allegheniensis Porter, 1896. Allegheny or common blackberry, sow-teat berry, ronce des Alléghanys”. 
  8. ^ Peterson, Chris J., and Steward T.A. Pickett (1995). "Forest reorganization: a case study in an old-growth forest catastrophic blowdown". Ecology. 76: 763+
  9. ^ "Vegetation of Hooper Branch Nature Preserve, Iroquois County, Illinois." Northeastern Naturalist. 17 (2): tr.261-272 (2010)