Bước tới nội dung

Rupicola peruvianus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Rupicola peruvianus
Con đực R. p. sanguinolentus, Colombia
Con cái (phân loài điển hình)
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Aves
Bộ: Passeriformes
Họ: Cotingidae
Chi: Rupicola
Loài:
R. peruvianus
Danh pháp hai phần
Rupicola peruvianus
(Latham, 1790)
Phân loài

Xem văn bản

Chim đực R. p. sanguinolentus khoe bộ lông lưng.

Rupicola peruvianus, hay còn được gọi là tunki (Quechua),[2] là một loài thuộc bộ Sẻ lớn trong họ Cotinga có nguồn gốc từ rừng sương mù dãy AndesNam Mỹ. Loài này là loài quốc điểu của Peru. Chúng có bốn phân loài và họ hàng gần nhất là loài Rupicola rupicola.

R. peruvianus thể hiện sự dị hình giới tính rõ rệt; chim đực có mào hình đĩa và có bộ lông màu đỏ tươi hay màu cam rực, trong khi chim cái có màu tối hơn và nâu hơn đáng kể. Các cá thể đực tụ tập để thu hút con cái trong mùa sinh sản, mỗi con phô diễn bộ lông rực rỡ, thực hiện các động tác gật đầu, nhảy nhót và phát ra nhiều loại tiếng kêu khác nhau. Sau khi giao phối, chim cái tự mình làm tổ dưới các mỏm đá nhô ra, ấp trứng, và nuôi dưỡng con non.

Loài chim này chủ yếu ăn trái cây, được bổ sung với côn trùng, động vật lưỡng cư, bò sát và các loài chuột nhỏ. Chúng phân bố khắp các khu rừng sương mù thuộc dãy Andes , có phạm vi khoảng 260.000 km2 (100.000 dặm vuông Anh). Mặc dù đang chịu tác động từ việc mất môi trường sống, loài này hiện vẫn chưa được xếp vào nhóm bị đe dọa.

Phân loài

[sửa | sửa mã nguồn]

Có bốn phân loài được công nhận:[3]

R. p. peruvianus(Latham, 1790), phân loài điển hình

R. p. aequatorialisTaczanowski, 1889

R. p. sanguinolentusGould, 1859

R. p. saturatusCabanis and Heine, 1859

R. peruvianus là một loài chim thuộc bộ sẻ lớn, chiều dài khoảng 32 cm (13 in) và nặng khoảng 265 gam (9,3 oz; 0,584 lb), trong đó con đực có kích thước lớn hơn chút và những cá thể nặng nhất có thể đạt tới 300 gam (11 oz; 0,66 lb). Loài chim này là một trong nhiều loài có sự dị hình giới tính rõ rệt. Chim đực có mào lớn hình đĩa kéo dài trên chiếc mỏ ngắn của chúng[4] và có bộ lông màu đỏ tươi hoặc cam rực. Chúng có đuôi và cánh màu đen, và lông bả vai màu xám nhạt. Chim cái có màu nhạt hơn và nâu hơn đáng kể so với chim đực và có mào ít nổi bật hơn. Mỏ của chim đực có màu vàng và mỏ của chim cái có màu sẫm với một đầu mỏ nhỏ màu vàng. Tùy thuộc vào giới tính và phân loài, có các biến thể đáng kể về màu sắc của mống mắt, từ đỏ qua cam và vận đến trắng xanh ở chim đực, và trắng qua đỏ đến nâu ở chim cái.[5] Ngoài những tiếng kêu phô diễn được mô tả trong phần sinh sản bên dưới, những con đang kiếm ăn phát ra tiếng kêu lớn "tank?" khi bị quấy rầy hoặc khi đang bay.[6][7]

Chim đực chưa trưởng thành ở vườn thú Cincinnati, Mỹ

Phạm vi phân bố và môi trường sống

[sửa | sửa mã nguồn]

R. peruvianus phân bố ở các khu rừng mây thuộc dãy Andes. Chúng sinh sống trong phạm vi rộng khoảng 260.000 km2 (100.000 dặm vuông Anh) dọc theo khắp Venezuela, Colombia, Ecuador, PeruBolivia,[1] chủ yếu ở các khe núi và suối có rừng tại các khu vực núi cao có độ cao từ 500 đến 2.400 m (1.600 đến 7.900 ft). Chúng thường hoạt động ở tầng rừng thấp và trung bình, nhưng sẽ di chuyển lên tầng cao hơn khi cây ra quả hoặc đôi khi bay băng qua các khoảng rừng hở. Loài chim này có bản tính nhút nhát và kín đáo, thường chỉ có thể quan sát được trong chốc lát khi chúng bị xua đuổi hoặc khi đang bay nhanh xuống các thung lũng.[6]

R. p. aequatorialis là phân loài phổ biến nhất, có phạm vi phân bố trải dài khắp dãy Andes từ phía đông Colombia đến phía tây Venezuela, phía đông Ecuador và phía đông Peru. Phân loài điển hình, R. p. peruvianus, có phạm vi hẹp hơn, chỉ kéo dài dọc theo dãy Andes thuộc miền trung Peru. R. p. sanguinolentus phân bố khắp dãy Andes từ phía tây Colombia đến tây bắc Ecuador. Trong khi đó, phân loài R. p. saturatus có phạm vi phân bố xuyên suốt đông nam Peru và phía tây Bolivia.[8]

Thức ăn và kiếm ăn

[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ ăn loài này bao gồm chủ yếu trái cây và côn trùng, dù thằn lằnếch cũng từng được ghi nhận.[9] Trái cây được tiêu thụ chủ yếu từ các họ thực vật Lauraceae, Annonaceae, và Rubiaceae, mặc dù một vài họ thực vật khác cũng từng được báo cáo trong bữa ăn của chúng.[7] Loài này là một trong nhiều loài từng được ghi nhận là có tập tính ăn theo kiến [en].[10] Chúng thường sẽ ăn trái cây có lượng protein cao, nhưng vẫn ưa thích ăn các loại trái cây khác trên thực đơn hơn.[7]

Sinh sản

[sửa | sửa mã nguồn]

Chim đực R. peruvianusloài đa thê và không tham gia vào việc làm tổ sau khi giao phối xong. Thay vào đó, chúng dành phần lớn năng lượng cho các hành vi phô trương công phu để khoe bộ lông rực rỡ của chúng. Những màn phô trương này diễn ra trong các bãi giao phối [en], nơi chim đực tập trung để thách thức đối phương và thu hút chim cái.[5] Chim đực dễ bị quấy rầy nên hành vi của chúng không dễ quan sát.[6] Một nghiên cứu cho thấy hoạt động phô trương phụ thuộc vào cường độ ánh sáng, trong đó các đợt biểu diễn vào buổi sáng và buổi chiều thường diễn ra khi ánh sáng đạt cùng một mức cường độ nhất định.[11]

Ở bãi giao phối, chim đực từng được quan sát thấy tách ra thành từng cặp và thực hiện "màn đối đầu". Các hành vi này bao gồm việc đứng đối diện nhau, cúi đầu, nhảy và vỗ cánh, đôi khi chúng còn mổ mỏ nhau, đồng thời phát ra những tiếng kêu quang quác và tiếng gầm gừ khác nhau. Khi chim cái tiến gần, chúng càng trở nên mãnh liệt hơn. Màn phô trương lúc này biến thành một bản hòa âm hỗn loạn của những sắc màu rực rỡ và các hoạt động điên cuồng, lấp đầy không gian bằng những âm thanh kỳ lạ.[6]

Mùa sinh sản diễn ra vào các thời điểm khác nhau trong năm ở các khu vực khác nhau. Tại Colombia, mùa sinh sản thường diễn ra từ tháng 2 tới tháng 7. Trong khi đó tại Ecuador, mùa sinh sản kéo dài từ tháng 7 tới tháng 2 năm sau.[12]

Tổ được làm hoàn toàn bởi chim cái, được trát bùn lên cửa hang hoặc các mỏm đá trong khe núi rừng.[13] Tổ thường được tạo nên từ nước bọt của con cái trộn với nguyên liệu vật và bùn.[7][12] Tổ có hình dạng như một chiếc cốc lõm.[12] Chim cái chủ yếu đẻ hai quả trứng màu trắng[14] và ấp khoảng từ 25 tới 28 ngày.[7]

Tác động môi trường

[sửa | sửa mã nguồn]

R. peruvianus ảnh hưởng đến môi trường xung quanh chúng. Người ta phát hiện ra rằng một con hét nước mũ trắng (Cinclus leucocephalus) đã sử dụng lại một tổ loài chim này bị bỏ để đẻ trứng. Loài này cũng thay đổi hệ thực vật xung quanh thông qua việc phát tán hạt giống. Hạt mà chúng ăn thường được tìm thấy rải rác xung quanh bãi giao phối và địa điểm làm tổ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự nảy mầm và phát triển của những hạt giống đó. Sự đa dạng của các loại hạt giống này được phát hiện là tăng lên ở bãi giao phối và tổ và giảm đi trong toàn bộ khu rừng xung quanh.[15]

Loài săn mồi

[sửa | sửa mã nguồn]

Loài chim này đối mặt với những loài săn mồi lớn hơn một chút so với các loài chim sẻ hót nhỏ. Các loài săn mồi thường bị thu hút đến khu vực giao phối bởi những hành vi phô trương dễ thấy của các con đực. Các loài động vật được ghi nhận săn loài này là đại bàng diều hâu, chim cắt rừng, diều hâu, , báo đốm, báo sư tử, mèo gấm Ocelot, và trăn xiết mồi.[15]

Mối quan hệ với con người

[sửa | sửa mã nguồn]

R. peruvianus là loài quốc điểu của Peru.[5][16] Cả chim non và chim trưởng thành thường được sử dụng làm thú cưng.[17]

Bảo tồn

[sửa | sửa mã nguồn]

Quy mô quần thể và xu hướng biến động số lượng trên toàn thế giới vẫn chưa được xác định, nhưng được cho rằng là loài này không bị đe dọa. Loài này được xếp vào nhóm ít quan tâm theo sách đỏ IUCN dù đang mất môi trường sống. Chúng phân bố không đều nhưng phạm vi vẫn đủ lớn để duy trì ở trạng thái ít quan tâm.[1][7]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 BirdLife International (2018). "Rupicola peruvianus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa (bằng tiếng Anh). 2018 e.T22700974A130267257. doi:10.2305/IUCN.UK.2018-2.RLTS.T22700974A130267257.en. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2021.
  2. "Diccionario: Quechua - Español - Quechua, Simi Taqe: Qheswa - Español - Qheswa" (PDF). Diccionario Quechua - Español - Quechua. Gobierno Regional del Cusco, Perú: Academía Mayor de la Lengua Quechua. 2005.
  3. "Passeriformes". Zoonomen (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 6 năm 2015.
  4. "Andean cock-of-the-Rock". The Dallas World Aquarium (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2026.
  5. 1 2 3 Bostwick, K.S. (2004). del Hoyo, J.; Elliot, A.; Christie, D.A. (biên tập). Cotingas to Pipits and Wagtails. Handbook of the Birds of the World (bằng tiếng Anh). Quyển 9. Barcelona: Lynx Editions. tr. 107–108. ISBN 84-87334-69-5.
  6. 1 2 3 4 Ridgely, Robert S.; Tudor, Guy (1994). The Birds of South America: The Suboscine Passerines (bằng tiếng Anh). University of Texas Press. tr. 778–779. ISBN 0-19-857218-2.
  7. 1 2 3 4 5 6 Snow, D. (2020). del Hoyo, J.; Elliott, A.; Sargatal, J.; Christie, D. A.; de Juana, E. (biên tập). "Andean Cock-of-the-rock (Rupicola peruvianus)". Birds of the World (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1.0). Ithaca, NY, USA: Cornell Lab of Ornithology. doi:10.2173/bow.andcot1.01.
  8. Lepage, Denis. "Andean Cock-of-the-rock (Rupicola peruvianus) - Avibase" (bằng tiếng Anh). Birds Canada. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2024.
  9. Lopes, Leonardo E.; Fernandes, Alexandre M.; Marini, Miguel Â. (2005). "Predation on vertebrates by Neotropical passerine birds" (PDF). Lundiana (bằng tiếng Anh). 6 (1). Instituto de Ciências Biológicas - UFMG: 57–66. doi:10.35699/2675-5327.2005.22028.
  10. Rios, Margarita; Londoño, Gustavo; Biancucci, Luis (2008). "Notes on birds that follow army ants in the northern Andes". Ornitologia Neotropical (bằng tiếng Anh). 19 (1). The Neotropical Ornithological Society: 137–142.
  11. Hill, Geoffrey E.; McGraw, Kevin J. (2006). Bird Coloration (bằng tiếng Anh). Harvard University Press. tr. 159. ISBN 978-0-674-01893-8.
  12. 1 2 3 Janni, O.; Boano, G.; Pavia, M.; Gertosio, G. (2008). "Notes on the breeding of birds in Yanachaga-Chemillén National Park, Peru". Cotinga (bằng tiếng Anh). 30: 42–46.
  13. Hilty, Steven L.; Brown, Bill; Brown, William L. (1986). A Guide to the Birds of Colombia (bằng tiếng Anh). Princeton University Press. tr. 440. ISBN 978-0-691-08372-8.
  14. Reina, Ruben; Reina, E. (1991). The Gift of Birds (bằng tiếng Anh). UPenn Museum of Archaeology. tr. 124. ISBN 978-0-924171-12-3.
  15. 1 2 Haemig, Paul D. (2012). "Ecology of the Cock-of-the-Rock". Ecology.Info (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2026.
  16. "Rupicola peruvianus - Rupicola peruvianus" (bằng tiếng Anh). New Hampshire Public Broadcasting. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
  17. "Andean Cock-of-the-rock (Rupicola peruvianus) - BirdLife species factsheet" (bằng tiếng Anh). BirdLife International. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]