Sự kiện phá đê Hoa Viên Khẩu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khu vực chịu ảnh hưởng vụ phá đê năm 1938 (bôi màu vàng)

Sự kiện phá đê Hoa Viên Khẩu (tiếng Trung: 花园口决堤事件; bính âm: huāyuán kǒu juédī shìjiàn) là một trận lụt do Chính phủ Quốc dân đảng ở Trung Quốc tạo ra trong giai đoạn đầu của chiến tranh Trung - Nhật trong một nỗ lực để ngăn chặn tốc độ tiến quân nhanh chóng của lực lượng quân Nhật Bản. Nó đã được gọi là "hành động chiến tranh môi trường lớn nhất trong lịch sử"[1][2].

Quyết định chiến lược và sự kiện lũ lụt[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai bắt đầu năm 1937, quân đội Đế quốc Nhật Bản đã nhanh chóng tiến vào trung tâm lãnh thổ Trung Quốc. Đến tháng 6 năm 1938, quân Nhật kiểm soát toàn bộ miền Bắc Trung Quốc. Vào ngày 6 tháng 6, họ đã chiếm được Khai Phong, thủ phủ tỉnh Hà Nam, và đe dọa sẽ chiếm được Trịnh Châu, đường giao cắt của xa lộ Pinghan và đường sắt Longhai. Thành công của quân Nhật ở đây sẽ gây nguy hiểm trực tiếp cho các thành phố lớn Vũ HánKalani.

Để ngăn chặn đà tiến quân tiếp theo của quân Nhật vào miền tây và miền nam Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch, theo đề xuất của Chen Guofu, quyết tâm phá một đoạn đê trên sông Hoàng Hà gần Trịnh Châu. Kế hoạch ban đầu là phá huỷ đê tại Zhaokou, nhưng do những khó khăn tại địa điểm đó, đoạn đê ở Hoa Viên Khẩu, bờ phía nam đã bị phá hủy vào ngày 5 và 7 tháng 6, khiến nước tràn vào Hà Nam, An Huy và Giang Tô. Lũ lụt bao phủ và phá huỷ hàng ngàn kilômét vuông diện tích đất nông nghiệp và chuyển miệng của sông Hoàng Hà hàng trăm cây số về phía nam. Hàng ngàn ngôi làng đã bị ngập nước hoặc bị phá hủy và hàng triệu dân làng buộc phải rời khỏi nhà của họ và trở thành những người tị nạn. Một ủy ban hậu chiến chính thức của Quốc Dân Đảng ước tính rằng 800.000 người chết đuối[3], cao hơn mức tính toán các nguồn hàn lâm hiện đại.

Tranh cãi về chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Giá trị chiến lược của trận lụt đã bị người ta nghi vấn. Quân đội Nhật Bản đã ở ngoài phạm vi, hoặc là về phía bắc và đông hoặc về phía nam. Sự tiến quân của họ đối với Trịnh Châu đã bị đình trệ, nhưng vào tháng 10 họ đã tấn công từ một hướng khác. Người Nhật không chiếm nhiều diện tích của Hà Nam cho đến cuối chiến tranh và sự giữ vững của họ đối với An Huy và Giang Tô vẫn còn mong manh. Hầu hết các thị trấn và đường giao thông ở những khu vực bị ngập nước đã bị người Nhật chiếm; Sau trận lũ họ không thể củng cố sự kiểm soát của họ đối với khu vực, và phần lớn của nó đã trở thành các khu vực du kích[4].

Tranh cãi về số thương vong[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng người thiệt mạng trong trận lụt vẫn còn gây tranh cãi và ước tính đã được chính phủ Trung Quốc và các nhà nghiên cứu khác sửa đổi trong nhiều thập niên sau sự kiện này. Không có cách đánh giá chính xác số thương vong: phần lớn dân chúng, kể cả các quan chức, đã trốn chạy, không để lại sự kiểm soát của chính phủ và không ai đếm được số người chết. Trong những trận giao tranh giữa những kẻ cướp, Quốc dân đảng, những người cộng sản, và quân Nhật Bản, việc tính số thương vong không phải là một ưu tiên cao. Chính phủ Quốc dân đảng, sau khi tuyên bố rằng vụ phá đê này là nhằm vào quân Nhật Bản, đã sử dụng số thương vong nặng để chứng minh quy mô của sự hy sinh mà nhân dân Trung Quốc yêu cầu; Họ tuyên bố rằng 12 triệu người đã bị ảnh hưởng bởi trận lụt, và năm 1948 ước tính số người chết là 800.000 người. Một tài liệu lịch sử chính thức năm 1994 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ước tính con số người chết trong trận lụt ở mức 900.000 người và người tị nạn gần 10 triệu người. Các học giả khám phá các kho lưu trữ ngày nay đưa ra con số thấp hơn: 400-500.000 người chết, 3 triệu người tị nạn, và 5 triệu người bị ảnh hưởng (ước tính khác cho thấy số người chết là 500.000 và số người vô gia cư ở mức 500.000)

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh số người chết to lớn, các khu vực ngập nước đã bị ảnh hưởng trong nhiều năm sau. Các vùng nông thôn bị ngập nước ít nhiều bị bỏ hoang và tất cả các cây trồng bị phá hủy. Khi nước rút đi, các vùng đã ngập gần như là không thể canh tác được vì phần lớn đất bị phủ bùn. Rất nhiều công trình công cộng và nhà ở cũng bị phá hủy, khiến những người sống sót sống cơ cực. Các kênh tưới tiêu cũng bị hủy hoại, làm tăng thêm tác hại sinh thái trên đất nông nghiệp.[4] Sự phá hủy cũng có ảnh hưởng bất lợi đến dân số Trung Quốc. Không thể nào quyết định được nhóm nào đáng bị đổ lỗi cho thảm họa này, hoặc Trung Quốc hoặc là quân xâm lược Nhật Bản, nhiều người sống sót đổ lỗi cho cả hai bên. Khu vực bị ngập lụt đã trở thành một khu tuyển dụng màu mỡ cho đảng Cộng sản Trung Quốc, những người đã tận dụng sự giận dữ của người sống sót đối với một kẻ thù chung để đưa họ gia nhập hàng ngũ của mình. Vào thập niên 1940, khu vực này đã phát triển thành một căn cứ du kích chính gọi là Căn cứ địa Dự Hoàn Tô (chữ Hán: 豫皖苏, bính âm: Yuwansu).[4]

Vụ phá đê đã trở thành tiêu điểm để phe Cộng sản cố gắng ngăn chặn nỗ lực của Chính phủ Quốc dân đảng, với sự trợ giúp của Liên Hợp Quốc, nhằm vá lại chỗ đê bị phá. Cuộc kháng chiến vũ trang của họ cuối cùng cũng thất bại và đê được đắp lại vào năm 1946 và 1947, và sông Hoàng Hà quay trở lại dòng chảy cũ như trước năm 1938. Vụ phá đê đã mang lại cho phe Cộng sản một lực lượng lớn ở miền Bắc.[4]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dutch, Steven I. (tháng 11 năm 2009). “The Largest Act of Environmental Warfare in History”. Environmental & Engineering Geoscience 15 (4): 287–297. doi:10.2113/gseegeosci.15.4.287. 
  2. ^ Muscolino, Micah S. (2014). The Ecology of War in China: Henan Province, the Yellow River, and Beyond, 1938–1950. Cambridge University Press.
  3. ^ Taylor, Jay (2009). The Generalissimo: Chiang Kai-Shek and the Struggle for Modern China. Cambridge, MA: Belknap Press of Harvard University Press. tr. 154–155. 
  4. ^ a ă â b Lary, Diana (ngày 1 tháng 4 năm 2001). “Drowned Earth: The Strategic Breaching of the Yellow River Dyke, 1938”. War in History 8 (2): 191–207. doi:10.1177/096834450100800204. 1082337951.