SIG SG 540

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SG 540
SIG SG 543 Right.jpg
Loại Súng trường tấn công
Nguồn gốc  Thụy Sỹ
Lược sử hoạt động
Quốc gia sử dụng Xem Các nước sử dụng
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Schweizerische Industrie Gesellschaft (SIG)
Năm thiết kế Những năm 1970
Nhà sản xuất
Giai đoạn sản xuất 1977–2002
Các biến thể SG 542, SG 543
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng
  • SG 540: 3,52 kg
  • SG 542: 3,55 kg
  • SG 543: 3 kg
Chiều dài
  • SG 540: 950 mm báng mở / 733 mm báng gấp
  • SG 542: 1000 mm báng mở/ 754 mm báng gấp
  • SG 543: 805 mm báng mở / 569 mm báng gấp
Cỡ nòng 
  • SG 540: 460 mm
  • SG 542: 465 mm
  • SG 543: 300 mm

Đạn
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng phản lực bắn, Thoi nạp đạn xoay
Tốc độ bắn 650–800 viên/phút
Sơ tốc
  • SG 540: 980 m/s
  • SG 542: 820 m/s
  • SG 543: 875 m/s
Tầm bắn hiệu quả 100–500 m
Cơ cấu nạp Hộp đạn rời 20 đến 30 viên
Ngắm bắn Điểm ruồi

SIG SG 540 là loại súng trường tấn công được phát triển bởi công ty Schweizerische Industrie Gesellschaft (SIG) cho lực lượng quân đội Thụy Sỹ. Việc thiết kế được tiến hành để thay thế súng SIG SG 510 cũ khi loại đạn 5.56x45mm NATO trở thành loại đạn tiêu chuẩn trong lực lượng quân đội Thụy Sỹ thay thế cho loại đạn 7.5×55mm. Ngoài việc trang bị cho quân đội loại súng này cũng được dùng để xuất khẩu.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản đầu tiên sử dụng đạn 5.56x45mm NATO là khẩu SIG SG 530 được chế tạo thử và những năm 1960 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với con quay hãm. Nhưng loại súng này quá phứt tạp cũng như quá đắt để chế tạo hàng loạt. Vì thế đến năm 1969 một mẫu mới đã được chế tạo loại bỏ con lăn hãm và thay bằng thoi nạp đạn xoay với cơ chế hoạt động giống như cách hoạt động giống như khẩu AK-47 nhưng sửa lại một tý. Việc kết hợp hai thiết kế này cho kết quả thành công và được đưa vào chế tạo hàng loạt.

Việc sản xuất bắt đầu khoảng năm 1973-1974, nhưng do quy định về việc hạn chế xuất khẩu vũ khí của Thụy Sỹ nên việc chế tạo được chuyển sang cho nhà máy MANURHIN (Manufacture de Machines du Haut Rhin) tại Mulhouse, Pháp sau đó.

Súng còn được sử dụng tại các quốc gia khác ở châu Á, châu Phi, Nam Phi cũng như nhiều lực lượng thi hành công vụ khác. Bồ Đào Nha đã mua bản quyền chế tạo loại súng này vào năm 1988. Và Chile cũng đã mua bản quyền sản xuất loại súng này và dựa trên đó để phát triển ra súng tiểu liên FAMAE SAF.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

SG 540 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén, thoi nạp đạn xoay với hai móc khóa lớn cố định viên đạn vào vị trí. Một lò xo quấn quanh thanh pít ton truyền động trong ống trích khí và thoi nạp đạn gắn với thanh này qua nút kéo lên đạn có thể tháo ra. Hệ thống trích khí có hai chế độ đóng và mở, chế độ mở dùng để bắn bình thường còn chế độ đóng thường dùng để bắn lựu đạn từ đầu nòng vì khí nén sẽ không được trích ra mà dùng hoàn toàn vào việc đẩy. Thân súng làm bằng thép ép chia thành hai phầ chính trên và dưới, hai phần này sẽ được nối với nhau bằn một chốt ấn. Nút khóa an toàn cũng là nút chọn chế độ bắn nằm ở phía bên trái súng với ba chế độ an toàn, từng viên và tự động ngoài ra còn một cơ chế là bắn ba viên có thể thêm vào sau.

Nòng súng được tính hợp bộ phận chống chớp sáng cũng như có thể gắn thêm ống phóng lựu đầu nòng hay lưỡi lê. Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi nhưng cũng có thể gắn các hệ thống nhắm khác. Súng sử dụng hộp đạn rời có thể chứa 20 đến 30 viên và tích hợp thêm chân chống chữ V để có thể tác chiến hiệu quả hơn có thể gấp vào lớp ốp tay nếu chưa cần sử dụng.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • SG 540: Mẫu tiêu chuẩn có thể có báng cố định hay báng gấp.
  • SG 542: Mẫu sử dụng đạn 7.62×51mm NATO.
  • SG 543: Mẫu carbine ngắn và vì chiều dài ngắn của nó mà không thể sử ống phóng lựu cũng như không có chân chống chữ V.
  • SG 550: Mẫu nâng cấp đưa vào trang bị sau đó.
  • SIG Manurhin F.S.A.SIG Manurhin C.S.A: Mẫu bán tự động cho dân sự.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]