Suzucho Karatedo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Suzucho Karatedo Ryu
Tên Hán-Việt Linh Trường Không Thủ Đạo Phái
Nguồn gốc võ thuật Nhật Bản
Năm sáng lập 1963 (cũng có tài liệu ghi 1960)
Người sáng lập Suzuki Choji
Nội dung truyền dạy Võ đạo, Nghệ thuật chiến đấu
Cơ cấu tổ chức Chưởng môn, Trưởng tràng, Trưởng bộ môn
Chưởng môn đương nhiệm Suzuki Tokuo
Trưởng tràng đương nhiệm Lê Văn Thạnh
Nơi hoạt động chủ yếu Việt Nam

Suzucho Karatedo (鈴長空手道) là tên một hệ phái KaratedoViệt Nam do võ sư Suzuki Choji sáng lập vào năm 1963[1][2]. Suzucho Karatedo còn được đọc theo tên gọi phiên âm Hán Việt là Linh Trường Không Thủ Đạo.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Suzucho là từ ghép từ họ và tên của tổ sư sáng lập võ phái, Suzuki Choji (鈴木長治). Suzucho (鈴長, Linh Trường) hàm nghĩa khát vọng lưu lại sự nghiệp dài lâu như tiếng chuông ngân xa. Suzucho Karate-Do còn được gọi theo phiên âm Hán Việt là Linh Trường Không Thủ Đạo.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, cách mạng tháng Tám ở Việt Nam thành công. Võ sư Suzuki Choji (lúc đó là một người lính Nhật Bản) đã tình nguyện ở lại Việt Nam, tham gia Mặt trận Việt Minh dưới tên Phan Văn Phúc[4]. Thời gian công tác tại Liên khu V (Quảng Ngãi), võ sư đã dạy các bài võ cận chiến cho đội du kích Ba Tơ (Quảng Ngãi). Năm 1954, kháng chiến chống Pháp kết thúc, võ sư cùng phu nhân là Nguyễn Thị Minh Lệ, chuyển về định cư tại Đà Nẵng. Một thời gian sau, võ sư về sống tại Huế. Tại đây, ông thành lập Đạo đường Karatedo đầu tiên ở chính ngôi nhà của mình, tại số 8 Võ Tánh, Huế. Thời gian này chính quyền chưa cấp phép dạy võ, nhưng võ sư cũng đã đào tạo và truyền thụ cho vài học trò tâm huyết. Đạo đường số 8 Võ Tánh ghi nhận công sức tập luyện của những cao đồ của thầy Suzuki như Nguyễn Nhuận,Trương Dẫn, Hạ Quốc Huy, Nguyễn Xuân Dũng, Khương Công Thêm, Nguyễn Văn Dũng, Võ Đại Vạn, Lê Văn Thạnh, Ngô Đồng, Vĩnh Tung, Bảo Trai, Trương Đình Hùng...

Sau ngày 01 tháng 11 năm 1963, Nha Thanh niên Trung nguyên Trung phần đã cấp giấy phép chính thức mở võ đường Hệ phái Suzucho Karatedo[5] (Linh Trường Không Thủ Đạo phái) tại ngôi nhà của võ sư, nơi khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển hệ phái Suzucho Karatedo sau này. Võ đường bắt đầu được quyền thu nhận võ sinh mới. Võ sư trở thành Chưởng môn đời thứ nhất của hệ phái Suzucho Karatedo.

Trong thời gian này, một số cao đồ của võ sư đã xin mở một số lớp võ ở các trường đại học, cao đẳng, trung học lân cận. Huế trở thành nơi có phong trào Karatedo phát triển mạnh nhất và được coi như cái nôi của Karatedo Việt Nam[6].

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1964, võ sư Suzuki Choji mở khóa đào tạo đặc biệt mang tên Bodankumi[7] và chỉ gồm duy nhất 7 người, giờ tập được nâng lên gấp đôi bình thường với mục đích truyền tải tất cả tinh hoa võ học Karate nhằm xây dựng thế hệ huấn luyện viên chủ chốt cho tương lai. Cuối cùng, do nhiều điều kiện khách quan, chỉ còn duy nhất cao đồ Lê Văn Thạnh tiếp nối được bước đi của thầy.

Tháng 3 năm 1973, võ sư Suzuki trao lại quyền quản lý Đạo đường số 8 Võ Tánh, Huế cho cao đồ là võ sư Lê Văn Thạnh, còn võ sư đi phát triển Karatedo tại Đà Nẵng và các tỉnh thành khác.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các sinh hoạt võ thuật bị hạn chế hoạt động, võ đường Suzucho không còn hoạt động nữa. Võ sư cùng gia đình chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống cho đến khi hồi hương về Nhật Bản năm 1978. Trong thời gian này, các môn đồ Suzucho vì nhiều lý do nên mỗi người một phương. Tuy nhiên ở Huế vẫn còn tập trung nhiều môn đồ. Trưởng tràng đương nhiệm Lê Văn Thạnh đã vừa tập trung phát triển môn võ tại Huế, vừa đi các tỉnh, thành khác để vận động, động viên những môn đồ của thầy Suzuki cố gắng sinh hoạt, phát triển Karatedo tại địa bàn mình cư trú, làm việc.

Từ năm 1978 trở đi, các cao đồ của thầy Suzuki lần lượt đi phát triển phong trào Karatedo ở các địa phương, tỉnh thành. Võ sư Lê Văn Thạnh thành lập võ đường Bodankumi tại số 118 Chi Lăng, Huế năm 1978. Tại đây, ông đã đào tạo được nhiều môn đồ của Hệ phái, trong đó có những người đã là huấn luyện viên của đội tuyển Karatedo Quốc gia và rất nhiều người là trưởng bộ môn Suzucho Karatedo của các tỉnh, thành, ngành. Võ sư Nguyễn Văn Dũng thành lập phân đường Nghĩa Dũng Karatedo đặt tại số 8 Trương Định, Huế cũng vào năm 1978, là một trong bốn phân đường lớn của Suzucho Karatedo sau này. Võ sư Khương Công Thêm phát triển Karatedo Long An. Võ sư Ngô Đồng phát triển Cương Nhu Karatedo. Võ sư Hạ Quốc Huy tham gia phát triển Karatedo Đà Nẵng, sau đó thành lập phái Quyền Đạo Việt Nam tại Mỹ. Võ sư Trương Đình Hùng thành lập Đạo đường Choju (Đồng Nai) (1981)....

Năm 1985, chính phủ Việt Nam cho phép võ thuật được hoạt động trên cả nước, được tham gia những giải đấu võ thuật lớn của thế giới[8]. Suzucho Karatedo bắt đầu được phổ biến rộng rãi ở trong nước và cả nước ngoài. Những học trò của thầy Suzuki như Hạ Quốc Huy, Henry Lam... đã mang môn võ của thầy mình ra nước ngoài và thành lập những võ đường ở Mĩ, Canada v.v. Năm 1984, ông Hoàng Vĩnh Giang lúc đó với tư cách là Phó giám đốc Sở Thể dục Thể thao Hà Nội đã có thư mời Võ sư Lê Văn Thạnh, lúc đó đang là Trưởng tràng hệ phái, ra giúp cho Hà Nội phát triển môn võ này. Vào thời gian này, ông đã hỗ trợ huấn luyện cho gần 10 người, trong đó có những người sau này làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia như Đoàn Đình Long, Lê Công. Trong thời gian đó ông vẫn thỉnh thoảng ra vào các tỉnh miền trung và miền nam như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đồng Nai để tiếp nối bước Thầy mình giúp phát triển các võ đường Suzucho Karatedo. Võ sư Đoàn Đình Long sau này tách khỏi hệ phái Suzucho Karatedo và thành lập hệ phái Đoàn Long Karatedo.

Năm 1992, đội tuyển Karatedo Việt Nam được thành lập. Từ đó đến nay, đội tuyển ghi nhận công sức đóng góp rất lớn của các huấn luyện viên thuộc hệ phái Suzucho Karatedo.

Qua hàng chục năm hình thành và phát triển, đến nay, các thế hệ học trò của các cao đồ đi trước đã xây dựng được các bộ môn Suzucho Karatedo ở 40 phân đường chi nhánh ở các tỉnh, thành, ngành trong nước, và 10 phân đường chi nhánh ở nước ngoài.

Hệ thống bài quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ hệ thống triết học của Hệ phái Suzucho Karatedo được ngầm chứa trong 9 bài quyền đặc dị, gồm 6 bài YEN và 3 bài MAKI.

Số 9 biểu hiện khát vọng không ngừng vươn tới sự hoàn thiện hoàn mỹ, cũng là biểu hiện sự vận hành của Dịch lý.

YEN (円) là vòng tròn, sự luân chuyển không ngừng. Quá trình tập luyện Karate-Do là quá trình tự thăng hoa mình. Là quá trình hun đúc cho mình một cái tâm tràn đầy như nước, một cái thần trong sáng như trăng, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển; một cái đức nhân ái, công bằng và cao thượng; một tri thức thấu đáo mọi lẽ; một cốt cách ung dung, trầm tĩnh, đĩnh đạc. Đó là quá trình đạt đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ.

MAKI (巻き) là cuộn, quyền, là quyền lực. Quá trình tập luyện Karate-Do còn là quá trình hun đúc cho mình sức mạnh, bản lĩnh, quyền năng để vượt thắng những tác động của thiên nhiên: gió mưa, nóng lạnh, bệnh tật; những cám dỗ của trần thế: sắc đẹp, tiền tài, danh vọng; và nỗi sợ hãi trước lẽ thành bại, được mất, sống chết của kiếp người. Đó là quá trình đạt tới cõi tự tại, tự giác.

Cơ cấu tổ chức hệ phái[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức của hệ phái được ghi rõ trong Điều lệ, còn gọi là Môn quy: Chưởng môn là người lãnh đạo tinh thần. Một Ban chấp hành, đứng đầu là Trưởng tràng, thay mặt Chưởng môn điều hành Hệ phái. Dưới Ban chấp hành là các phân đường lớn, và phân đường chi nhánh các tỉnh, thành, ngành. Dưới phân đường tỉnh, thành, ngành là các võ đường hoặc câu lạc bộ cơ sở. Hệ phái là một tổ chức truyền thống hoạt động trên nền tảng Võ đạo Karate, Luật pháp quốc gia, và theo định hướng của ngành Thể dục Thể thao.

Chưởng môn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chưởng môn Suzuki Choji qua đời năm 1995, con trai trưởng của thầy là Võ sư Suzuki Tokuo đăng quang Chưởng môn đời thứ II, cuối năm 1995.

Trưởng tràng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Hệ phái, Trưởng tràng là chức danh mang tính truyền thống. Là người chịu trách nhiệm trực tiếp với Chưởng môn, là người phụ trách điều hành mọi hoạt động của Hệ phái. Trước 1995 và sau 2006, Trưởng tràng do Chưởng môn chỉ định. Từ 1995 đến 2006, Trưởng tràng do Đại hội Hệ phái bầu, được Chưởng môn xét duyệt và ra Quyết định bổ nhiệm.

Qua gần 50 năm hình thành và phát triển, Hệ phái có tất cả 15 đời Trưởng tràng theo thứ tự: Nguyễn Nhuận (1966), Khương Công Thêm (1967), Võ Đại Vạn (1968-1969) Nguyễn Xuân Dũng (1969 - 1970), Hạ Quốc Huy (1970), Trần Đình Tùng (1971), Hoàng Như Bôn (1972), Nguyễn Bá Kiều (1973), Lê Văn Thạnh (1973 - 1986), Ngô Văn Thanh (1986 - 1987), Lê Văn Thạnh (1987 - 1989), Hoàng Như Bôn (1989 - 1990), Khương Công Thêm (1990 - 1994), Nguyễn Văn Dũng (1995 - 2006), Lê Văn Thạnh (2006 - nay).

Các chi phái và phân đường[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ phái Suzucho Karate-Do hiện có hơn 40 phân đường chi nhánh ở các tỉnh, thành, ngành trong nước và 10 phân đường chi nhánh ở nước ngoài, với khoảng hơn 30.000 môn sinh thường xuyên tập luyện. Nhiều người trong số đó là những huấn luyện viên, trọng tài lão luyện của làng Karate-Do Việt Nam như võ sư Đoàn Đình Long, Lê Công, Lê Văn Thạnh. Nhiều người trong số đó là những vận động viên xuất sắc như Phạm Hồng Hà, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Văn Thông, Vũ Quốc Huy, Hà Thị Kiều Trang, Vũ Thị Kim Anh Vũ Nguyệt Ánh.

Cũng như cây đại thụ có nhiều cành, nhiều nhánh, Hệ phái Suzucho Karate-Do phát triển rộng khắp, đã hình thành 03 chi phái và nhiều phân đường lớn.

Ba Chi phái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phái Minh Đạo (1966, tại Huế), của Võ sư Nguyễn Nhuận.
  • Phái Cương Nhu (1966, tại Huế) của Võ sư Ngô Đồng.
  • Phái Quyền Đạo Việt Nam (1982, tại Mỹ), của Võ sư Hạ Quốc Huy.

Các Phân đường lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi Phân đường đều có sắc thái riêng mang đậm nét tính cách, nhân cách, quan điểm, quan niệm, sở trường, sở đoản, nghề nghiệp, vị trí xã hội... của vị Trưởng phân đường:

  1. Phân đường Bodankumi (Huế), của Võ sư Lê Văn Thạnh (Huyền đai Đệ Cửu đẳng).
  2. Phân đường Sakura, của Võ sư Ngô Văn Thanh (Huyền đai Đệ Thất đẳng).
  3. Phân đường Nghĩa Dũng (Huế), của Võ sư Nguyễn Văn Dũng (Huyền đai Đệ Thất đẳng).
  4. Phân đường Nhân Trí Dũng, của Võ sư Hoàng Như Bôn (Huyền đai Đệ Thất đẳng).
  5. Phân đường Fuji (Nha Trang) của Võ sư Nguyễn Tấn Kiệt (Huyền đai Đệ Bát đẳng).
  6. Phân đường Choju (Đồng Nai), của Võ sư Trương Đình Hùng (Võ sư) (Huyền đai Đệ Bát đẳng).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Năm 1963 đánh dấu sự thành lập của Suzucho Karatedo bằng việc chính quyền đã cấp giấy phép cho phép mở võ đường hệ phái Suzucho Karatedo. Tuy nhiên trước đó, khi ông quyết định ở lại Việt Nam năm 1945, ông đã bắt đầu truyền thụ Karatedo cho các môn đồ của mình và một vài đơn vị dân quân Việt Minh. Năm 1954, võ sư Suzuki Choji thành lập Đạo đường đầu tiên của mình tại số 8 Võ Tánh, Huế (cũng có tài liệu nói là năm 1960).
  2. ^ Trích dẫn từ bài viết của trưởng tràng Lê Văn Thạnh, đăng tải trên trang Web của hệ phái.
  3. ^ Theo Lịch sử hệ phái Suzucho Karatedo, phân đường Nghĩa Dũng Karatedo.
  4. ^ Theo tiểu sử về cuộc đời võ sư Suzuki Choji
  5. ^ Được đề cập tới trong bài viết về tiểu sử Tổ sư Suzuki Choji đăng tải trên trang web của hệ phái và bài viết của trưởng tràng Lê Văn Thạnh.
  6. ^ Huế tự hào là "cái nôi Karatedo của Việt Nam"
  7. ^ Bodankumi là tên một loài hoa rất quý ở Nhật mà mỗi cây chỉ có duy nhất một hoa, dụng ý chỉ tầm quan trọng và đặc biệt của khóa đào tạo này.
  8. ^ Theo Hành trình đến với Suzucho Karatedo Ryu, võ sư văn phòng Chưởng Môn Ngô Văn Quý (8 đẳng).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]