Tóc giả

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một bộ tóc giả.

Tóc giả là một bộ tóc được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như tóc thật, lông động vật hoặc vật liệu tổng hợp và được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Trong lĩnh vực thời trang, tóc giả là một phụ kiện thời trang được sử dụng để thay đổi kiểu tóc, màu tóc hoặc độ dài tóc, giúp người dùng thể hiện phong cách cá nhân hoặc phù hợp với một dịp đặc biệt[1][2]. Trong y tế, tóc giả có thể được sử dụng để che giấu các vấn đề về tóc do bệnh tật hoặc chấn thương[3][4]. Chúng còn được sử dụng trong văn hóa để thể hiện bản sắc văn hóa hoặc tôn giáo.[5][6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ đại và trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong xã hội Ai Cập cổ đại, cả nam và nữ đều cạo trọc hoặc cắt tóc ngắn và thường xuyên đội tóc giả.[7][8] Họ đội tóc giả để che nắng, bảo vệ da đầu khỏi bụi bẩn và chấy rận. Tóc giả cũng là một cách để thể hiện địa vị xã hội và sự giàu có. Người Ai Cập làm tóc giả bằng tóc người, lông thú hoặc sợi cây gai dầu. Họ dệt tóc thành lưới hoặc bện thành dây. Sau đó, họ gắn tóc vào một khung hoặc mũ. Tóc giả có thể được nhuộm màu hoặc trang trí bằng đồ trang sức.[7] Những nền văn hóa cổ đại khác, bao gồm Assyria,[9] Phoenicia, người Do Thái ở Israel cổ đại,[10] Hy Lạp và La Mã, cũng sử dụng tóc giả. Tóc giả là một phần quan trọng trong thời trang của nhiều nền văn hóa cổ đại. Ở Trung Quốc, tóc giả trở nên phổ biến từ thời Xuân Thu (770 – 476 TCN).[11]

Thế kỷ 16 và 17[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã phương Tây , người dân phương Tây không còn chuộng sử dụng tóc giả nữa. Họ cho rằng tóc giả là biểu tượng của sự xa hoa và lãng phí, không phù hợp với thời kỳ khó khăn. Mãi đến thế kỷ 16, khi kinh tế phương Tây bắt đầu phát triển, tóc giả mới được hồi sinh trở lại. Lúc này, tóc giả được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, chủ yếu là để che giấu tình trạng rụng tóc hoặc cải thiện vẻ bề ngoài cá nhân.[12] Tóc giả không chỉ là một phụ kiện thời trang, mà còn là một cách để bảo vệ sức khỏe. Trong thời kỳ vệ sinh kém, tóc dài dễ bị nhiễm chấy rận. Cạo tóc tự nhiên và thay thế bằng tóc giả dễ vệ sinh hơn là một cách để giảm thiểu nguy cơ này.[13] Mũ bằng lông thú cũng được sử dụng theo cách tương tự.

Nữ hoàng Elizabeth I, ảnh chụp năm 1588

Sự hồi sinh của bộ tóc giả này có thể được quy cho sự bảo trợ của hoàng gia.[14] Tại Anh, Nữ hoàng Elizabeth I nổi tiếng với bộ tóc giả màu đỏ của bà. Ở Pháp, Vua Louis XIII bắt đầu đội tóc giả vào năm 1624 khi ông bắt đầu bị hói.[15] Con trai và người kế vị của ông, Vua Louis XIV, đã tiếp tục phong cách này và giúp nó trở nên phổ biến ở Pháp và các nước châu Âu khác. Bộ tóc giả vẫn là phong cách thống trị của nam giới trong khoảng 140 năm cho đến khi Cách mạng Pháp nổ ra vào năm 1789. Cách mạng đã dẫn đến sự thay đổi về trang phục và phong cách, và bộ tóc giả đã dần dần bị loại bỏ.

Tóc giả nam giới được du nhập vào thế giới nói tiếng Anh vào năm 1660, khi vua Charles II trở về nước sau thời gian lưu vong ở Pháp. Những bộ tóc giả này thường dài ngang vai hoặc dài hơn, bắt chước kiểu tóc dài đã trở thành mốt của nam giới ở Pháp từ những năm 1620. Tóc giả nhanh chóng trở nên phổ biến trong triều đình Anh. Nhiều quý tộc và quan chức bắt đầu đeo tóc giả để thể hiện sự giàu có và địa vị của họ.[16]

Vào thế kỷ 17, nam giới quý tộc ở châu Âu thường đội tóc giả. Tóc giả không chỉ là một món đồ thời trang, mà còn là một biểu tượng của địa vị xã hội. Các nhà làm tóc giả đã trở nên rất nổi tiếng và được coi trọng. Năm 1665, Hội thợ làm tóc giả được thành lập ở Pháp. Sự phát triển này nhanh chóng lan sang các nước châu Âu khác. Công việc của họ đòi hỏi kỹ năng cao bởi những bộ tóc giả thế kỷ 17 rất cầu kỳ. Chúng thường che kín lưng, vai và dài xuống ngực, khiến chúng rất nặng và khó chịu. Do đó, chúng cũng rất đắt tiền. Những ví dụ tốt nhất được làm từ tóc người, trong khi lông ngựa và dê thường được sử dụng thay thế rẻ hơn.[17][18]

Thế kỷ 18[sửa | sửa mã nguồn]

Five Orders of Periwigs, 1761
Wig 1780–1800
Tóc giả dạng túi là một kiểu tóc giả phổ biến ở châu Âu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.[19]

Vào thế kỷ 18, nam giới thường đội tóc giả màu trắng phủ bột. Tóc giả này được làm từ tóc người hoặc tóc động vật khác, và thường được trang trí cầu kỳ.[20] Phụ nữ không đội tóc giả, nhưng họ thường chải tóc với nhiều tóc nhân tạo hoặc tóc giả. Những kiểu tóc này cũng được phủ bột để có màu trắng hoặc trắng nhạt. Tóc giả phủ bột và tóc tự nhiên phủ bột trở thành xu hướng thời trang phổ biến ở châu Âu trong suốt thế kỷ 18.

Một trong những kiểu tóc giả phức tạp nhất từng được tạo ra là kiểu tóc được đội trong lễ đăng quang của George III vào năm 1761. Kiểu tóc này được họa sĩ William Hogarth ca ngợi trong bản khắc "Five Orders of Periwigs". Đến năm 1765, việc đội tóc giả đã lỗi thời ngoại trừ một số nhóm nghề nghiệp như người đánh xe và luật sư. Trong thời kỳ này, mọi người có xu hướng chỉ để tóc tự nhiên, tạo kiểu và phủ bột để giống tóc giả. Tuy nhiên, xu hướng này đã hồi sinh một cách rầm rộ trong thời kỳ Macaroni những năm 1770.[18] Phụ nữ chủ yếu phủ bột lên tóc màu xám hoặc xám xanh, và từ những năm 1770 trở đi không bao giờ có màu trắng sáng như nam giới.[21]

Trong những năm 1780, nam thanh niên bắt đầu tạo ra một xu hướng thời trang mới bằng cách phủ nhẹ bột lên mái tóc tự nhiên của họ. Tuy nhiên, xu hướng này không kéo dài lâu. Sau năm 1790, cả tóc giả và bột tóc đều trở nên lỗi thời. Sau năm 1790, họ hiếm khi dùng phấn phủ lên tóc. Năm 1795, chính phủ Anh đánh thuế bột tóc 1 guinea mỗi năm. Thuế này gây khó khăn cho việc sử dụng bột tóc, vốn được coi là một biểu tượng của chế độ cũ. Granville Leveson-Gower, một nhà ngoại giao Anh, đã ghi nhận sự thay đổi này khi ông ở Paris vào năm 1796.[22]

Tóc giả của nam giới trong thế kỷ 18 có nhiều thay đổi. Trước đó, tóc giả thường dài và cầu kỳ, nhưng sang thế kỷ 18, chúng trở nên nhỏ gọn và trang trọng hơn. Cho đến năm 1823, các giám mục của Giáo hội Anh và Giáo hội Ireland cũng đội tóc giả theo nghi lễ. Tóc giả của các giám mục thường có màu trắng, và có kiểu dáng cầu kỳ hơn tóc giả của các luật sưthẩm phán.[23][24]

Thế kỷ 19 và 20[sửa | sửa mã nguồn]

Tóc giả từng là một biểu tượng của địa vị xã hội cao ở châu Âu. Chúng được các nhà quý tộc, tầng lớp thượng lưu và các quan chức chính phủ sử dụng. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 19, việc đội tóc giả bắt đầu bị bãi bỏ ở một số nước châu Âu. Ở Hoa KỳPháp, các nước cộng hòa mới thành lập, việc đội tóc giả bị coi là một biểu tượng của chế độ quân chủ. Những người theo chủ nghĩa cộng hòa muốn tạo ra một xã hội mới, nơi mọi người đều bình đẳng, không phân biệt địa vị xã hội. Ở các nước châu Âu khác, việc đội tóc giả vẫn tiếp tục được sử dụng trong các nghi lễ triều đình. Tuy nhiên, vào năm 1804, Napoleon Bonaparte lên ngôi hoàng đế Pháp. Napoleon là một người ủng hộ chủ nghĩa quân chủ, và ông đã khôi phục việc đội tóc giả cho các quan chức chính phủ.

Hoa Kỳ, chỉ có bốn tổng thống đầu tiên, từ John Adams đến James Monroe, đội tóc giả. Tóc giả của họ được làm bằng bột và có kiểu dáng xoăn, buộc thành hàng dài, theo phong cách cổ điển của thế kỷ 18.[25][26] Tuy nhiên, không phải tất cả các tổng thống này đều đội tóc giả thường xuyên. Thomas Jefferson chỉ đội tóc giả một vài lần, và ông ngừng đội tóc giả hoàn toàn sau khi trở thành tổng thống vào năm 1801.[27] John Quincy Adams cũng đội tóc giả khi còn trẻ, nhưng ông đã từ bỏ mốt này khi giữ chức Bộ trưởng Hoa Kỳ tại Nga từ năm 1809 đến năm 1814, rất lâu trước khi lên nắm quyền tổng thống vào năm 1825.[28] George Washington là tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, không bao giờ đội tóc giả.[29]

Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các thợ làm tóc ở AnhPháp đã kinh doanh rất nhanh chóng khi cung cấp các bộ tóc giả nhỏ, lọn tóc và búi giả được làm sẵn để kết hợp vào kiểu tóc. Tóc giả có thể giúp phụ nữ tạo ra các kiểu tóc phức tạp mà không cần phải cắt tóc quá dài. Việc sử dụng búi tóc không hề giảm đi ngay cả khi tóc của phụ nữ ngày càng ngắn hơn trong thập kỷ từ 1910 đến 1920. Tuy nhiên, chúng dường như đã lỗi thời trong những năm 1920, khi kiểu tóc ngắn trở nên phổ biến hơn.[30] Vào những năm 1960, một loại tóc giả tổng hợp mới đã được phát triển bằng cách sử dụng sợi modacrylic. Tóc giả tổng hợp có giá cả phải chăng hơn và dễ chăm sóc hơn tóc giả làm bằng tóc thật.[31]

Thế kỷ 21[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ 21, ngành công nghiệp tóc giả đã trở thành một ngành công nghiệp tỷ đô.[32] Tóc giả được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm che đi các khuyết điểm về tóc, tạo ra các kiểu tóc phức tạp và tạo ra các kiểu tóc theo phong cách thời trang. Ấn Độ là nguồn cung cấp tóc chính cho ngành công nghiệp tóc giả[33][34][35]. Tuy nhiên, ngành công nghiệp tóc giả cũng có những vấn đề về đạo đức. Có báo cáo cho rằng phụ nữ ở khu vực ASEAN và trẻ em ở khu ổ chuột ở Ấn Độ bị bóc lột để lấy tóc.[36][37][38][39] Tóc thu mua được từ các nguồn trên sẽ được vận chuyển đến Trung Quốc để sản xuất và chế biến. Tại đây, tóc được phân loại và tạo thành tóc giả. Sản phẩm cuối cùng được xuất khẩu ra nước ngoài, trong đó các quốc gia dẫn đầu là Hoa KỳVương quốc Anh.[40]

Do Thái giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Theo luật Do Thái, phụ nữ đã kết hôn phải che tóc để thể hiện sự khiêm tốn và riêng tư[41][42][43]. Có nhiều cách để che tóc, chẳng hạn như đội khăn quàng cổ, mũ trùm đầu, hoặc đội tóc giả. Một số phụ nữ Do Thái Chính thống đội tóc giả, được gọi là sheitels.[44] Tóc giả của những người theo đạo Do Thái Haredi và Hasidic thường được làm từ tóc người. Một số giáo sĩ Do Thái cho rằng tóc giả là không phù hợp[45][46]. Họ lập luận rằng tóc giả có thể thu hút sự chú ý của người khác và khiến người phụ nữ trông giống như cô ấy đang cố gắng che đi điều gì đó[47][48][49].

Nhà thiết kế tóc giả nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Willy Clarkson: Chuyên gia thiết kế tóc giả cho các vở diễn tại nhà hát West End ở London.
  • Nina Lawson: Trưởng phòng thiết kế tóc giả tại Nhà hát Opera Metropolitan từ năm 1956 đến 1987.
  • Peter King: Nhà thiết kế tóc giả đến từ Bristol, Vương quốc Anh.[50]
  • Peter Owen: Nhà thiết kế tóc giả đến từ Bristol, Vương quốc Anh.[51]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ VnExpress. “Tóc giả - phụ kiện làm đẹp xa xỉ của phụ nữ Ai Cập cổ đại”. vnexpress.net. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  2. ^ Trí, Dân (18 tháng 11 năm 2023). “Lộ diện bộ tóc giả dài nhất thế giới”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  3. ^ “Thư viện tóc giả và Tình yêu thật với bệnh nhân ung thư”. vovgiaothong.vn. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  4. ^ thanhnien.vn (13 tháng 8 năm 2023). “Người làm tóc giả từ tóc thật: 'Nghệ thuật có giá trị khi giúp ích cho đời'. thanhnien.vn. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  5. ^ “Phụ nữ Hà Nhì làm đẹp bằng mái tóc giả | Ban Dân vận Trung ương”. danvan.vn. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  6. ^ SHTT&ST, Theo (24 tháng 10 năm 2023). “Hé lộ lý do người Ai Cập cổ đại đội tóc giả và sự thật không tưởng về thói quen cạo đầu - Tạp chí Doanh nghiệp Việt Nam”. Cơ quan ngôn luận của Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  7. ^ a b Wallenfels, Ronald (2000). The Ancient Near East: An Encyclopedia for Students, Volume 2. Scribner. tr. 145. ISBN 9780684805948.
  8. ^ Fletcher, Joann; Salamone, Filippo (2016). “An Ancient Egyptian Wig: Construction and Reconstruction”. Internet Archaeology (42). doi:10.11141/ia.42.6.3.
  9. ^ “Dumuzid and Jectin-ana”. The Electronic Text Corpus of Sumerian Literature. 19 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013.
  10. ^ Mishna tractate Sabbath Chapter 6 Mishna 5
  11. ^ Snodgrass, Mary Ellen (2015). World Clothing and Fashion: An Encyclopedia of History, Culture, and Social Influence (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 119, 120, 121. ISBN 9781317451679.
  12. ^ “Fashion: The history of the wig: On a wig and a prayer”. The Independent. 17 tháng 1 năm 1999.
  13. ^ “Perukes, Pomade, and Powder: Hair Care in the 1700s”. 28 tháng 1 năm 2015.
  14. ^ “A Brief History of the Wig”. 15 tháng 6 năm 2015.
  15. ^ Marcel Gomes. “Louis XIII « The Beautiful Times”. The Beautiful Times. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2013.
  16. ^ Samuel Pepys; Henry Benjamin Wheatley (1895). The Diary of Samuel Pepys (Volume 9, Page 60).
  17. ^ Chaudhary, Amit (10 tháng 7 năm 2018). “History of Hair Wigs - Why It is in Trend Today - Artificial Heads of Hair”. Planetofhaircloning.com.
  18. ^ a b Cockayne, Emily (2021). Filth, Noise & Stench in England. Yale University Press. tr. 66–72.
  19. ^ McDowall, Carolyn. “Adventures in Hair for 18th Century Gentlemen”. The Culture Concept Circle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2020.
  20. ^ “When Did Men Stop Wearing Wigs?”. 8 tháng 6 năm 2017.
  21. ^ “Hair Powder Tax”. All Things Georgian. 22 tháng 7 năm 2013.
  22. ^ Noted in Janet Gleeson, Privilege and Scandal: The Remarkable Life of Harriet Spencer, Sister of Georgiana 2006:178.
  23. ^ “History of Court Dress”. Courts and Tribunals Judiciary. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2023.
  24. ^ Gayne, Mary K. "Illicit Wigmaking in Eighteenth-Century Paris." Eighteenth-Century Studies, vol. 38, no. 1, 2004, pp. 119–37. JSTOR, http://www.jstor.org/stable/30053631. Accessed 3 Dec. 2023.
  25. ^ Albert J. Menendez (1983). Christmas in the White House. Westminster John Knox Press. tr. 56. ISBN 0-664-21392-8.
  26. ^ Whitcomb, John; Whitcomb, Claire (3 tháng 5 năm 2002). Real life at the White House: 200 years of daily life at America's most famous residence (ấn bản 1). London: Routledge. ISBN 978-0-415-93951-5. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2010.
  27. ^ Merril D. Smith (2015). The World of the American Revolution: A Daily Life Encyclopedia [2 volumes]: A Daily Life Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 261. ISBN 978-1-4408-3027-3.
  28. ^ Hewson, Martha S.; Cronkite, Walter (1 tháng 1 năm 2009). John Quincy Adams – Google Knihy. ISBN 978-0-7910-7599-9. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
  29. ^ “Frequently Asked Questions: Did George Washington wear a wig?”. The Papers of George Washington. University of Virginia. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
  30. ^ Emile Long, Hairstyles and Fashion: A Hairdresser's History of Paris, 1910–1920, edited with an introduction by Steven Zdatny, Berg (Oxford International Publishers Ltd), 1999 ISBN 1-85973-222-4
  31. ^ “Expert Says Korean Labor Problems Knock Wig Market Askew”. Associated Press News. 3 tháng 8 năm 1988. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2013.
  32. ^ Sapiens (19 tháng 1 năm 2022). “The Hard Labor That Fuels the Hair Trade”. SAPIENS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  33. ^ cand.com.vn. “Thực và giả trong kinh doanh tóc người”. Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  34. ^ News, VietNamNet. “Báo VietnamNet”. VietNamNet News. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  35. ^ “Sức hấp dẫn của mái tóc và mặt tối thị trường”. Truyenhinhthanhhoa.vn. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  36. ^ McDougall, Dan (24 tháng 6 năm 2006). “Trade in hair forces India's children to pay the price”. The Observer (bằng tiếng Anh). ISSN 0029-7712. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  37. ^ “Human hair trade is exploiting ASEAN women”. The ASEAN Post (bằng tiếng Anh). 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  38. ^ Khaleeli, Homa (28 tháng 10 năm 2012). “Ngày Cắt Tóc”. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  39. ^ “ASEAN: Multi-billion hair industry exploits women by buying hair at very low prices | Business & Human Rights Resource Centre”. Business & Human Rights Resource Centre (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  40. ^ Boland, Rosita. "The Hair Collectors: Where Wigs and Hair Extensions Come From". The Irish Times, April 6, 2019.
  41. ^ Shulchan Aruch, Even Ha'ezer 115, 4; Orach Chayim 75,2; Even Ha'ezer 21, 2
  42. ^ Schiller, Mayer. "The Obligation of Married Women to Cover Their Hair" Lưu trữ 2008-04-07 tại Wayback Machine. JHCS 30, 1995, 81–108.
  43. ^ Laurie (18 tháng 7 năm 2019). “Head-Covering V: Where • Deracheha”. Deracheha (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2024.
  44. ^ Jr, William C. Innes (30 tháng 4 năm 2021). Religious Hair Display and Its Meanings (bằng tiếng Anh). Springer Nature. ISBN 978-3-030-69974-1.
  45. ^ “Rabbi Says Long Wigs Are Not Proper Head Coverings”. CrownHeights.info. 3 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2013.
  46. ^ Buchanan, Mark (19 tháng 2 năm 2009). The Holy Wild: Trusting in the Character of God (bằng tiếng Anh). Crown Publishing Group. ISBN 978-0-307-56362-0.
  47. ^ Ari Galahar (6 tháng 9 năm 2010). “Rabbi Yosef comes out against wig-wearing”. Ynetnews.
  48. ^ Frimet Foldberger (4 tháng 8 năm 2014). “Taxonomy of the Sheitel”. The Forward.
  49. ^ Alieza Salzberg. “Hair Coverings for Married Women”. My Jewish Learning.
  50. ^ “Peter Swords King”. IMDb. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  51. ^ “Peter Owen”. IMDb. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]