Tập đoàn quân số 6 (Đức Quốc xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Armee-Oberkommando 6
Tập đoàn quân số 6
Hoạt động 10 tháng 10, 1939 – 3 tháng 2, 1943
5 tháng 2, 1943 – 6 tháng 5, 1945
Quốc gia Đức Quốc xã Đức Quốc xã
Quân chủng Lục quân Đức Quốc xã
Phân loại bộ binh
Quy mô 285,000[1]
246,000 (18 tháng 12 năm 1942)[2]
Tham chiến

Thế chiến thứ hai

Trận nước Bỉ
Trận Gembloux (1940)
Trận chiến nước Pháp
Trận Uman
Trận Kiev (1941)
Chiến dịch Kharkov (1941)
Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya
Trận Stalingrad
Chiến dịch Romania
Huy hiệu
Biểu tượng
nhận dạng
6th Army Logo.svg
Biểu tượng
nhận dạng
Huy hiệu

Tập đoàn quân đoàn số 6 (tiếng Đức: Armeeoberkommando 6, viết tắt 6. Armee/AOK 6) là một đại đơn vị của Quân đội Đức Quốc xã. Từng là một trong những đại đơn vị thiện chiến nhất của Đức Quốc xã, nhưng dấu ấn được biết nhiều nhất của tập đoàn quân này lại là thất bại thê thảm tại trận Stalingrad, dẫn đến bước ngoặt quan trọng khởi đầu sự thất bại chiến lược của Đức Quốc xã tại Mặt trận phía Đông.

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Tập đoàn quân đoàn số 6 là Tập đoàn quân số 10 được thành lập ngày 26 tháng 8 năm 1939, trên cơ sở tập hợp từ các sư đoàn lục quân ở vùng Thượng Silesia. Ngay khi thành lập, Tập đoàn quân số 10 được đặt dưới quyền tư lệnh của Thượng tướng Pháo binh Walter von Reichenau, trực thuộc biên chế của Cụm tập đoàn quân Nam (Heeresgruppe Süd) để chuẩn bị cho Cuộc tấn công Ba Lan. Cuộc chiến kết thúc một cách nhanh chóng với thất bại của người Ba Lan. Tư lệnh tập đoàn quân, tướng von Reichenau được thăng hàm Đại tướng.

Mặt trận phía Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thắng lợi nhanh chóng tại Ba Lan, ngày 10 tháng 10 năm 1939, Tập đoàn quân số 10 được đổi phiên hiệu thành Tập đoàn quân số 6 và được chuyển thuộc sang Cụm tập đoàn quân B (Heeresgruppe B) vừa được thành lập. Nhiệm của tập đoàn quân lúc này mới chỉ là đảm trách hệ thống phòng thủ phía tây của Đức chống lại các cuộc tấn công của Anh và Pháp trong Cuộc chiến tranh kỳ quặc.

Ngày 10 tháng 5 năm 1940, Chiến dịch phía Tây (Westfeldzug) nổ ra, Tập đoàn quân số 6 với binh lực 5 quân đoàn bộ binh, 2 sư đoàn thiết giáp và một binh đoàn SS cơ giới, chiến đấu trong đội hình của Cụm Tập đoàn quân B, có nhiệm vụ tiến qua Vùng Đất Thấp và dụ chủ lực Đồng Minh tiến lên nghênh chiến.[3] Lực lượng của Tập đoàn quân số 6 đã vượt sông Meuse, rồi băng qua phía tây của phòng tuyến Maastricht (Liège and Maastricht) và kênh đào Albert, phối hợp với lực lượng lính dù công phá pháo đài Eben-Emael, Liège, và Namur trong Trận nước Bỉ, xuyên thủng phòng tuyến Dyle. Sau đó, tập đoàn quân tham gia chiến dịch công chiếm nước Pháp, kết thúc với thắng lợi công phá Paris. Sau khi Chiến dịch phía Tây kết thúc, tập đoàn quân được điều động sang thuộc biên chế Cụm tập đoàn quân A, chịu trách nhiệm phòng thủ cánh Bắc eo biển Normandy vào tháng 7 năm 1940. Với chiến tích trong Chiến dịch phía Tây, Tư lệnh tập đoàn quân, tướng von Reichenau được thăng hàm Thống chế (Generalfeldmarschall) cùng với 11 tướng lĩnh khác.

Mặt trận phía Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Barbarossa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 4 năm 1941, Tập đoàn quân số 6 được chuyển tới Ba Lan, thuộc biên chế Cụm tập đoàn quân Nam. Ngày 22 tháng 6 năm 1941, tập đoàn quân cùng đội hình Cụm tập đoàn quân Nam tấn côn vào Liên Xô theo hướng Ukraina. Sau trận chiến biên giới ở GaliciaVolhynia, Tập đoàn quân số 6 đã phá vỡ Phòng tuyến Stalin vào tháng 7 năm 1941, dồn các đơn vị Hồng quân về hướng sông Dnepr. Giữa tháng 8 và tháng 9 năm 1941, tập đoàn quân đã tham gia trận chiến bao vây Kiev. Tháng 10 năm 1941, tập đoàn quân đã chiến đấu trong các trận chiến ác liệt tại KharkovBelgorod. Mặt dù thu được những chiến tích to lớn, nhưng cũng như trên toàn mặt trận Xô - Đức, sự kháng cự ngoan cường của Hồng quân Liên Xô đã khiến cho ý đồ của quân Đức không thể đạt được mục đích hủy diệt hoàn toàn lực lượng chủ lực của Hồng quân Liên Xô.

Chiến cuộc 1942[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những cuộc giao chiến mùa đông năm 1941, trong khi chuẩn bị cho cuộc chiến xuân hè năm 1942, Thống chế Reichenau đã chết đột ngột sau một cơn đau tim.[4] Mùa hè năm 1942, Tập đoàn quân số 6 tiếp tục những trận chiến mới với vị tân tư lệnh, đồng thời cũng là cựu tham mưu trưởng của tập đoàn quân, tướng Friedrich Paulus. Với những thắng lợi lớn trong trận Kharkov, tập đoàn quân đã loại khỏi vòng chiến hơn 20 vạn binh sĩ Hồng quân Liên Xô.

Trận Stalingrad[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phản kích của Hồng quân tại Stalingrad                      German front, 19 November                      German front, 12 December                      German front, 24 December
  Soviet advance, 19–28 November

Theo kế hoạch mang mật danh Chiến dịch Blau (Fall Blau), Tập đoàn quân số 6 được chuyển thuộc về Cụm tập đoàn quân B, được đích thân Hitler giao nhiệm vụ làm lực lượng tiến công chủ lực của quân Đức ở phía Nam,[5] trên hướng sông Donsông Volga, tiến chiếm các mỏ dầu ở Baku và thành phố Stalingrad,[6] một trung tâm công nghiệp sản xuất nông trang, xe tăng, thiết bị lọc dầu, tàu chiến, súng đạn,... lớn của Liên Xô. Ngày xuất quân của tập đoàn quân này vào Stalingrad đúng vào ngày kỉ niệm 1 năm chiến dịch Barbarossa của Quân đội Đức Quốc xã (22 tháng 6 năm 1942). Sau những thắng lợi to lớn trên hướng Kalach - Ostrovsky - Kljetzkaja, ngày 23 tháng 8, tập đoàn quân đã tiến đến vùng ngoại ô của thành phố Stalingrad.[7]

Sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi và chuẩn bị, ngày 13 tháng 9 năm 1942, Tập đoàn quân số 6 bắt đầu cuộc tấn công vào thành phố đang bị vây hãm. Mặc dù nhanh chóng chiếm được hầu hết thành phố và dồn lực lượng phòng thủ ở đây gồm tập đoàn quân 62 và 64 Hồng quân đến sát bờ sông Volga, nhưng quân Đức vẫn không thể chiếm lĩnh được hoàn toàn thành phố và tiêu diệt lực lượng Hồng quân ở đây, dù phải trả giá bằng những tổn thất rất nặng nề.[8]

Cái bóng sau trận Stalingrad[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Biên chế đơn vị chủ lực[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1939[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh III
  • Quân đoàn bộ binh VI
  • Quân đoàn bộ binh XXIII
  • Sư đoàn bộ binh số 3
  • Sư đoàn bộ binh số 17
  • Sư đoàn bộ binh số 23
  • Sư đoàn sơn cước số 3

Tháng 5 năm 1940[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh IV
  • Quân đoàn bộ binh VI
  • Quân đoàn bộ binh XI
  • Quân đoàn bộ binh XXVII
  • Quân đoàn bộ binh XXXX
  • Sư đoàn thiết giáp số 3
  • Sư đoàn thiết giáp số 4
  • Binh đoàn SS-Verfügungstruppe (tương đương sư đoàn)

Tháng 6 năm 1941[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh III
  • Quân đoàn bộ binh XVII
  • Quân đoàn bộ binh XXIX
  • Quân đoàn bộ binh XXXXIV
  • Quân đoàn bộ binh XXXXVIII
  • Quân đoàn bộ binh LV
  • Sư đoàn khinh binh số 99

Tháng 7 năm 1942[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh VIII
  • Quân đoàn bộ binh XVII
  • Quân đoàn bộ binh XXIX
  • Quân đoàn bộ binh XXXX
  • Quân đoàn bộ binh LI

Tháng 2 năm 1943[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh IV
  • Quân đoàn bộ binh VIII
  • Quân đoàn bộ binh XI
  • Quân đoàn bộ binh XIV
  • Quân đoàn bộ binh LI
  • Sư đoàn thiết giáp số 14

Tháng 4 năm 1943[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh XVII
  • Quân đoàn bộ binh XXIV
  • Quân đoàn bộ binh XXIX
  • Sư đoàn bộ binh số 17
  • Sư đoàn bộ binh số 79
  • Sư đoàn thiết giáp số 23

Tháng 6 năm 1944[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn bộ binh VII
  • Quân đoàn bộ binh XXXXIV
  • Quân đoàn bộ binh LII
  • Quân đoàn bộ binh XXX
  • Sư đoàn thiết giáp số 3
  • Sư đoàn thiết giáp số 13

Tháng 2 năm 1945[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân đoàn kỵ binh I
  • Quân đoàn SS IV
  • Quân đoàn bộ binh III
  • Quân đoàn bộ binh II Hungary

Những cáo buộc tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Shirer 1960, tr. 838.
  2. ^ Ziemke 2002, tr. 69.
  3. ^ Dear and Foot 2005, trang 323.
  4. ^ Glantz & House 2009, tr. 192.
  5. ^ Ziemke 2002, tr. 18.
  6. ^ Ziemke 2002, tr. 15-16.
  7. ^ Ziemke 2002, tr. 40-41.
  8. ^ Ziemke 2002, tr. 46.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adam, Wilhelm; Ruhle, Otto (2015). With Paulus at Stalingrad. United Kingdom: Pen and Sword Books Ltd. ISBN 9781473833869.  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator= (trợ giúp)
  • Boll, Bernd; Safrian, Hans (2004). “On the Way to Stalingrad”. Trong Hannes Heer and Klaus Naumann. War Of Extermination: The German Military In World War II. New York: Berghahn Books. tr. 237–271. ISBN 1-57181-232-6. 
  • Shirer, William L. (1960). The Rise and Fall of the Third Reich. United States: Simon & Schuster. ISBN 0-671-72868-7. 
  • Ziemke, Earl F.; Bauer III, Magna E. (1987). Moscow to Stalingrad: Decision in the East. Washington D.C.: Center of Military History, US Army. ISBN 9780160019425. 
  • Ziemke, Earl F. (2002). Stalingrad to Berlin: The German Defeat in the East. Washington D.C.: Center of Military History, US Army. ISBN 9781780392875. 
  • Georg Tessin: Verbände und Truppen der Deutschen Wehrmacht und Waffen-SS im Zweiten Weltkrieg 1939–1945. Band 3. Die Landstreitkräfte 6–14. 2. Auflage. Biblio-Verlag, Bissendorf 1974
  • Bernd Boll, Hans Safrian: Auf dem Weg nach Stalingrad. Die 6. Armee 1941/42, S. 260ff. in Hannes Heer, Klaus Naumann (Hrsg.): Vernichtungskrieg. Verbrechen der Wehrmacht 1941 bis 1944, Hamburg 1995
  • Paul Carell: Stalingrad. Sieg und Untergang der 6. Armee, gebundene Ausgabe - Januar 2003
  • Paul Carell: Unternehmen Barbarossa. Der Marsch nach Rußland, gebundene Ausgabe - 1998
  • Unterstellungen und Kriegsgliederungen 9. Juni 1940: Gliederungen der Heeresgruppe B in RH 20-9/615 Bundesarchiv Freiburg
  • 6. Armee