The Last of Us

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
The Last of Us
Artwork of a teenage girl, with brown hair. She has a backpack, with a sniper rifle strapped to her side, and is standing behind a man in his 40's, who has brown hair and beard, and a revolver in his left hand. They are standing in a flooded grassy environment, turning to face the camera. The text "THE LAST OF US" is positioned to the left.
Nhà phát triểnNaughty Dog
Nhà phát hànhSony Computer Entertainment
Đạo diễn
Thiết kếJacob Minkoff
Lập trình
  • Travis McIntosh
  • Jason Gregory
Minh họa
  • Erick Pangilinan
  • Nate Wells
Kịch bảnNeil Druckmann
Âm nhạcGustavo Santaolalla
Nền tảngPlayStation 3
Ngày phát hànhJune 14, 2013
Thể loạiAction-adventure, survival horror
Chế độChơi đơn, multiplayer

The Last of Us là một tựa game hành động-phiêu lưu được phát triển bởi Naughty Dog và xuất bản bởi Sony Computer Entertainment. Nó được phát hành cho hệ máy PlayStation 3 trên toàn thế giới vào ngày 14 tháng sáu, 2013. Người chơi vào vai Joel, một kẻ buôn lậu nhận nhiệm vụ hộ tống một cháu gái tên là Ellie qua kì hậu tận thế tại Hoa Kỳ. The Last of Us được chơi từ góc nhìn  thứ ba; người chơi sử dụng vũ khí và có thể nâng cấp  vũ khí, và có thể sử dụng "stealth"  để tự vệ khỏi con người và sinh vật ăn thịt đồng loại bị đột biến do ảnh hưởng của nấm kí sinh Cordyceps. Trong chế độ chơi  online multiplayer, tám người chơi tham gia vào 1 trận đấu mang cả tính  hợp tác và cạnh tranh.

Sự phát triển của The Last of Us bắt đầu vào năm 2009, ngay sau khi nhà sản xuất Naughty Dog ra cho mắt trò chơi trước đó, Uncharted 2: Among Thieves. Mối quan hệ giữa Joel và Ellie đã trở thành tâm điểm của trò chơi, với tất cả các yếu tố khác phát triển xung quanh nó. Diễn viên Troy Baker và Ashley Johnson vào vai Joel và Ellie tương ứng qua giọng nói và công nghệ chụp chuyển động, và với sự hỗ trợ của giám đốc Neil Druckmann với việc phát triển các nhân vật và câu chuyện. Các bản nhạc gốc đã được soạn và trình diễn bởi Gustavo Santaolalla.

Sau khi công bố vào tháng 12 năm 2011, The Last of Us đã dự kiến rộng rãi. Khi phát hành, nó nhận được sự ca ngợi, với lời khen ngợi đạo diễn vì cốt truyện của nó, gameplay, hình ảnh và thiết kế âm thanh, sự đặc trưng, và tạo hình của nhân vật nữ. The Last Of Us  trở thành một trong những game bán chạy nhất trên PlayStation 3, với hơn 1,3 triệu bản bán ra trong tuần đầu tiên và 17 triệu bản vào tháng 4/2018. Nó đã giành được giải thưởng cuối năm, rất nhiều giải bao gồm giải Game of the Year  từ bình chọn của cộng đồng game thủ, các nhà phê bình,và các giải thưởng trò chơi, biến nó trở thành một trong những trò chơi được trao nhiều nhất trong lịch sử, và là một trong những game vĩ đại nhất mọi thời đại.

Sau khi trò chơi phát hành, Naughty Dog phát hành thêm một số nội dung bổ sung; The Last Of Us: Left Behind thêm một phần chơi đơn về Ellie và người bạn tốt nhất, Riley. Phiên bản làm lại của The Last Of Us đã phát hành cho PlayStation 4 tháng 7 năm 2014.[a] Một cảnh của, The Last Of Us: II đã được công bố vào tháng 12 năm 2016.

Gameplay[sửa | sửa mã nguồn]

The Last Of Us là một tựa game hành động phiêu lưu, kinh dị, sinh tồn chơi từ  góc nhìn thứ thứ ba.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Người chơi đi qua thời kì hậu ngày tận thế  trong môi trường như thị trấn, các tòa nhà, rừng và hệ thống cống rãnh để súc tiến câu chuyện. Người chơi có thể sử dụng vũ khí, nâng cấp vũ khí, và steath để tự vệ chống lại con người và sinh vật ăn thịt đồng loại  do ảnh hưởng của nấm kí sinh Cordyceps . Phần lớn thời gian của trò chơi, người chơi kiểm soát Joel, một người đàn ông với nhiệm vụ hộ tống một cô bé, Ellie, đi khắp Hoa Kỳ, Ellie và các bạn đồng khác được điều khiển bởi những trí thông minh nhân tạo.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Người chơi còn điều khiển Ellie trong suốt cảnh mùa đông của trò chơi.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai

Trong chiến đấu, người chơi có thể sử dụng vũ khí tầm xa như súng trường, súng ngắn, và cung, và vũ khí tầm gần như khẩu súng ngắn và súng săn nòng ngắn. Các người chơi có thể đến nhặt những vũ khí có sẵn, chẳng hạn như ống nước và gậy bóng chày, ném chai và gạch để đánh lạc hướng, gây choáng, hoặc tấn công kẻ thù.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Người chơi có thể nâng cấp vũ khí tại bàn làm việc sử dụng các item nhặt được. Thiết bị như bộ dụng cụ y tế và bom xăng có thể được tìm thấy hoặc chế tác từ đồ thu thập được. Các thuộc tính như thanh máu và  tốc độ chế tạo có thể được nâng cấp = cách thu thập thuốc và cây thuốc. Máu, có thể nạp thông qua việc sử dụng các bộ dụng cụ y tế.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai

Tập tin:The Last of Us Listen Mode.jpg
Chế độ nghe cho phép người chơi biết vị trí của kẻ thù và nhân vật bằng cách hiển thị phác thảo của họ qua bức tường, đạt được thông qua việc tập trung thính giác và nhận thức không gian.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai

Mặc dù các người chơi có thể tấn công trực tiếp kẻ thù, họ cũng có thể sử dụng stealth để tấn công không bị phát hiện hoặc lẻn qua chúng. "Listen Mode" giúp người chơi xác định vị trí kẻ thù qua việc tập trung thính giác và nhận thức không gian, chỉ là phác thảo có thể nhìn thấy qua bức tường và vật thể. Trong khi di chuyển , người chơi có thể núp sau những đồ vật để đạt được một lợi thế chiến thuật trong chiến đấu. Trò chơi có giai đoạn không cần chiến đấu, mà thường xoay quanh các cuộc trò chuyện  giữa các nhân vật. Người chơi có thể giải các câu đố đơn giản như dùng tấm ván nổi để di chuyển Ellie, khi Ellie không thể bơi, vượt qua các vùng nước và sử dụng thang hoặc thùng rác để đến được khu vực cao hơn. Cốt truỵện chọn lọc, như các ghi chú,bản đồ và truyện tranh, có thể được nhặt và xem trong ba lô.

Trò chơi sử dụng hệ thống trí thông minh nhân tạo để điều khiển phản ứng của kẻ địch trong chiến đấu. Nếu kẻ thù phát hiện ra bạn, chúng có thể nấp hoặc gọi hỗ trợ, và có thể tận dụng lợi thế khi người chơi đang bị phân tâm, hết đạn, hoặc trong một cuộc chiến. Người bạn đồng hành, như Ellie, có thể hỗ trợ trong chiến đấu = cách ném đồ vật hoặc vũ khí làm choáng kẻ thù, thông báo vị trí của kẻ thù bị khuất, hoặc sử dụng dao và súng để tấn công kẻ thù.

Multiplayer[sửa | sửa mã nguồn]

Các tuyến nhiều người cho phép tám người tham gia vào 1 ván chơi mang tính cạnh tranh trong mà trong đó chế độ game được cài đặt như nhau. Trò chơi có ba chế độ chơi nhiều người: Supply Raid and Survivors một trận deathmatches giữa 2 đội, không bao gồm khả năng hồi sinh;Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Đội điều tra sẽ tìm vị trí  hộp khóa của kẻ thù, và đội đầu tiên chiếm được hộp khóa sẽ chiến thắng.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Trong mỗi chế độ chơi, người chơi được chọn một phe—thợ Săn (một nhóm quân nhân nổi loạn) hay Fireflies (một nhóm các nhà cách mạng)—và giữ cho đội họ còn sống,= cách thu thập nhu yếu phẩm trong các trận đấu. Mỗi trận đấu bằng một ngày, bằng cách sống sót mười hai "tuần" người chơi sẽ hoàn thành một  hành trình và có thể chọn phe khác.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Giết chết kẻ thù, cứu các đồng minh, và vật liệu kiếm được từ các phần chơi có thể được chế tạo thành vật phẩm,các vật liệu có thể nhặt được từ xác của kẻ thù. Người chơi có thể mang theo nhiều đồ hơn = cách kiếm điểm đồng thời ban hội của họ cũng phát triển theo. Người chơi có thể kết nối trò chơi = tài khoản Facebook, mà thay đổi mặt và tên các thành viên ban hội để phù hợp với người chơi là bạn bè trên Facebook.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Người chơi có khả năng tùy chỉnh nhân vật của mình với mũ bảo hiểm, mặt nạ, và biểu tượng.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng chín, 2013, một dịch bệnh do kí sinh nấm Cordyceps tàn phá Hoa Kỳ, biến đổi vật chủ là cơ thể con người thành những sinh vật hung dữ còn gọi là những kẻ nhiễm bệnh. Ở vùng ngoại ô của Austin, Texas, Joel (Troy Baker) chạy trốn khỏi sự hỗn loạn với anh trai Tommy (Jeffrey Pierce) và con gái, Sarah (Hana Hayes). Khi họ chạy trốn, Sarah bị bắn bởi một người lính và chết trong của vòng tay của Joel. Trong hai mươi năm tiếp theo, hầu hết nền văn minh nhân loại đã bị phá hủy bởi dịch bệnh. Những người sống sót chia ra sống trong khu vực cách ly được kiểm soát chặt chẽ bởi quân đội, các khu định cư độc lập và các nhóm du mục. Joel trở thành một kẻ buôn lậu với đối tác của ông, Tess (Annie Wersching) trong khu vực cách ly trong vùng  North End  của Boston. Họ săn lùng Robert (Robin Atkin Downes), một tay buôn bán chợ đen, để lấy lại vài vũ khí bị đánh cắp. Trước khi Tess giết ông ấy, Robert cho biết rằng ông đã giao dịch với nhóm Fireflies sốô vũ khí, một nhóm nổi loạn chống lại chính quyền ở khu vực cách ly.

 Kẻ cầm đầu của Fireflies, Marlene (Merle Dandridge), hứa sẽ trả họ gấp đôi, đổi lại họ phải giúp cô ấy "buôn lậu" 1 thiếu niên, Ellie (Ashley Johnson), tới chỗ ẩn náu của nhóm Fireflies ở một tòa nhà tại Massachusetts, bên ngoài khu vực cách ly. Joel, Tess, và Ellie lẻn ra ngoài vào ban đêm, nhưng sau 1 cuộc chạm trán với một đội tuần tra, họ phát hiện Ellie bị nhiễm bệnh. Sự nhiễm bệnh hoàn toàn thường xảy ra trong hai ngày, nhưng Ellie nói rằng cô ấy đã bị nhiễm ba tuần trước và rằng cô miễn nhiễm với dịch bệnh có thể dẫn đến một phương thuốc. Cả ba người  vượt qua hàng trăm nhóm bị nhiễm bệnh để đến đích, nhưng thấy rằng  nhóm Fireflies ở đó đã bị giết. Tess tiết lộ rằng cô ấy đã bị cắn; tin vào sự quan trọng của Ellie, Tess hy sinh để chống lại những người lính đang đuổi theo để Joel và Ellie có thể trốn thoát. Joel quyết định tìm Tommy, một cựu binh Firefly, với hy vọng rằng ông có thể cho biết vị trí của nhóm Fireflies. Với sự giúp đỡ của Bill (W. Earl Brown), một kẻ buôn lậu mắc nợ Joel, họ có được một chiếc xe. Lái xe vào Pittsburgh, Pennsylvania, Joel và Ellie bị phục kích bởi những tên phiếnl loạn và chiếc xe của họ bị phá hủy. Họ chiến đấu cùng với hai anh em, Henry (Brandon Scott) và Sam (Nadji Jeter), sau khi họ thoát khỏi thành phố. Sam bị cắn, nhưng giấu vết thương ở ch n. Ki bị nhiễm bệnh, Sam tấn công Ellie. Henry bắn cậu ta và tự sát trong một giây phút nông nổi.

Sang thu, Joel và Ellie cuối cùng đã tìm thấy Tommy tại Jackson, Wyoming, nơi mà ông đã xây dựng một căn cứ cạnh 1 nhà máy thủy điện với vợ Maria (Ashley Scott). Joel quyết định để Ellie lại với Tommy, nhưng sau khi cô ấy đối mặt với ông về Sarah, ông ấy quyết định để cho cô đi với mình. Tommy hướng dẫn họ đến căn cứ của Fireflies ở trường Đại học phía Đông Colorado. Họ tìm thấy trường đại học bị bỏ rơi, nhưng phát hiện rằng những nhóm Fireflies đã chuyển đến một bệnh việnSalt Lake City, Utah. Sau đó, hai người bị tấn công bởi 1 bọn cướp và Joel bị thương nặng (bị đâm xuyên bụng) trong khi đào thoát.

Trong suốt mùa đông, Ellie và Joel trú ẩn ở 1 vùng núi. Joel ở trên bờ vực của cái chết và phải dựa vào Ellie để chăm sóc cho ông. Săn thú để ăn, Ellie gặp David (Nolan North) và James (Reuben Langdon), là những người lụm đồ sẵn sàng đổi thuốc cho thức ăn, David có thái độ thù địch sau khi tiết lộ các tên cướp ở trường đại học là thành viên trong nhóm của mình. Ellie dụ được nhóm của David đi xa khỏi Joel, nhưng cuối cùng lại bị bắt, David có ý định chiêu mộ cô vào nhóm ăn thịt người của mình. Từ chối lời đề nghị của hắn, cô bỏ trốn sau khi giết James, nhưng David dồn cô vào một nhà hàng đang cháy. Trong khi đó, Joel đã hồi phục vết thương, và đi tìm Ellie. Ông tìm được Ellie khi cô ấy giết David và vỡ òa ra khóc trong hãi hùng. Joel an ủi cô ấy, trước khi họ chạy trốn.

Xuân, Joel và Ellie đến Salt Lake City. Khi tìm đường đến bệnh viện, Ellie bị bất tỉnh sau khi suýt bị chết đuối, trước khi họ bị bắt giữ và đánh bất tỉnh bởi một nhóm tuần tra của Fireflies. Trong bệnh viện, Joel gặp Marlene. Bà nói với Joel rằng Ellie đang được chuẩn bị phẫu thuật: hy vọng sản xuất được vắc xin chống lại dịch bệnh, nhưng nhóm Fireflies sẽ buộc phải loại bỏ phần nhiễm bệnh trong não Ellie, việc đó sẽ giết cô bé. Không muốn để Ellie chết, Joel chiến đấu với nhóm Fireflies đến phòng phẫu thuật và mang Ellie còn đang bất tỉnh đến bãi đỗ xe. Ông phải đối mặt với Marlene, bà cho ông một cơ hội cuối cùng để giao lại Ellie nhưng Joel từ chối và bắn chết Marlene. Trên đường lái xe về căn cứ của Tommy, Joel bảo Ellie rằng nhóm Fireflies đã tìm ra những người khác miễn nhiễm với căn bệnh, nhưng đã không thể tạo ra một phương thuốc, và do đó họ đã ngừng làm việc đó. Ở vùng ngoại ô của pháo đài Tommy, Ellie tiết lộ với Joel rằng thực sự cô muốn chết theo bạn thân nhất của mình, sau khi cả hai cùng bị nhiễm bệnh. Cô khăng khăng bắt Joel thề rằng câu chuyện về những nhóm FireFlies là sự thật. Joel thề với Ellie và cô nói "Ok". Game kết thúc.[1]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Naughty Dog bắt đầu phát triển The Last of Us trong năm 2009, sau sự ra mắt của Uncharted 2: Among Thieves. Lần đầu tiên trong lịch sử của công ty Naughty Dog chia thành hai đội, trong khi một nhóm phát triển Uncharted 3: Drake's Deception (2011), nhóm kia đã bắt đầu làm The Last Of Us.[113] giám Đốc Bruce Straley và giám đốc sáng tạo Neil Druckmann dẫn đầu nhóm đó chịu trách nhiệm cho việc phát triển The Last Of Us.[114]

Druckmann xem The Last Of Us là một câu chuyện tuổi mới lớn, trong đó Ellie thích nghi để tồn tại sau khi dành thời gian với Joel, cũng như khám phá cách mà người cha sẵn sàng cứu con mình.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Quy luật chính của trò chơi là "cuộc sống vẫn tiếp diễn "Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai điều này được thể hiện trong một cảnh mà Joel và Ellie thấy 1 đàn hươu cao cổ,hình ảnh này được nghệ sĩ John Sweeney giải thích được thiết kế để "khơi dậy  ham muốn sống [Ellie]", sau khi cô ấy đau khổ sau khi cô gặp gỡ với David.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên saiDịch bệnh,một khái niệm cốt lõi của trò chơi, được lấy cảm hứng từ một phân đoạn của phim tài liệu thiên nhiên BBC Planet Earth (2006), trong đó đặc biệt là nấm Cordyceps .Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai Mặc dù loại nấm đó chủ yếu lây nhiễm lên côn trùng, việc kiểm soát của mọi chức năng vận động, và buộc chúng phải làm vật chủ nuôi dưỡng nấmLỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai trò chơi khám phá khái niệm việc nấm phát triển và lây nhiễm cho con người, và kết quả trực tiếp của sự bùng phát lây nhiễm này.Lỗi chú thích: Thẻ mở <ref> bị hỏng hoặc có tên sai

Mối quan hệ giữa Joel và Ellie là tâm điểm của trò chơi, tất cả các yếu tố khác đã phát triển xung quanh nó. Troy Baker và Ashley Johnson vào vai Joel và Ellie, tương ứng, và lồng tiếng và chụp chuyển động .[115] Baker và Johnson đã đóng góp vào sự phát triển của các nhân vật; ví dụ, Baker thuyết phục Druckmann rằng Joel sẽ quan tâm đếnTess do sự cô đơn của mình,[116] và Johnson thuyết phục Druckmann rằng Ellie nên mạnh mẽ hơn và thận trọng hơn.[117] Vẻ bề ngoài của Ellie cũng được thiết kế lại trong suốt thời gian phát triển để làm cho cô ấy nhìn tương tự như Johnson.[118] Các nhân vật khác trong trò chơi cũng dần thay đổi. Nhân vật Tess ban đầu được dự định là nhân vật phản diện chính của The Last Of Us, nhưng các nhóm làm khó thấy nó rất khó để tin vào động cơ của cô ta.[119] Giới tính của nhân vật Bill  ban đầu còn mơ hồ trong kịch bản, nhưng sau đó thay đổi để phản ánh thêm tính đồng tính của ông. 

A 56-year-old man with dark gray hair talking into a microphone, looking at something beneath the camera.
Argentina nhạc sĩ Gustavo Santaolalla sáng tác và biểu diễn nhạc nền The Last Of Us.

The Last Of Us có một bản nhạc gốc được sáng tác bởi Gustavo Santaolalla, cùng với các tác phẩm của Andrew Buresh, Anthony Caruso, và Jonathan Mayer.[120] Được biết đến với việc làm tối giản tác phẩm Santaolalla đã được liên lạc bởi các nhà phát triển. Ông đã sử dụng các nhạc cụ khác nhau để tạo nên các bản nhạc bao gồm một số nhạc cụ ông không quen, tạo nên cảm giác nguy hiểm và ngây thơ.[121] Cách tiếp cận tối giản này cũng được thực hiện với thiết kế âm thanh và nghệ thuật của trò chơi. Âm thanh của người bị Nhiễm là một trong số những nhiệm vụ đầu tiên trong việc phát triển, các nhóm thử nghiệm với những âm thanh để đạt được những kết quả tốt nhất có thể. Để đạt được những âm thanh  của Clicker họ thuê diễn viên lồng tiếng nữ  Misty Lee, người cung cấp một âm thanh đó âm thanh dẫn Phillip Kovats mô tả như là có nguồn gốc từ "trở về của các cổ họng".[122] khoa nghệ thuật, lấy phần khác nhau của làm việc như là nguồn cảm hứng, như Robert Polidori's bức ảnh sau cơn Bão Katrina, được dùng như là một điểm tham khảo khi thiết kế ngập khu vực của Pittsburgh.[123] khoa nghệ thuật, đã buộc phải thương lượng cho những thứ mà họ muốn bao gồm, do các mạnh mẽ ý kiến khác nhau của đội bóng trong quá trình phát triển. Cuối cùng, đội giải quyết vào một sự cân bằng giữa đơn giản và chi tiết trong khi Straley và Druckmann ưu tiên trước đây, các nghệ thuật đội ưa thích sau.[124] trò chơi mở màn của các khoản tín dụng được sản xuất bởi của Sony San Diego Studio.[125]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Naughty Dog (14 tháng 6 năm 2013). The Last of Us. PlayStation 3 (phiên bản 1.0). Sony Computer Entertainment. 
  2. ^ Sources that list The Last of Us among the greatest video games of all time include:
  3. ^ Meyer, Arne (2 tháng 3 năm 2012). “Balance Of Power: Gameplay In The Last of Us”. PlayStation Blog. Sony Computer Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ Patten, Dominic (1 tháng 2 năm 2014). “Annie Awards: 'Frozen' Wins Big Including Best Feature; Miyazaki Gets Best Writing; Spielberg Honored; 'Futurama' & 'Sofia' Top TV; 'Get A Horse!' Best Short”. Deadline Hollywood. Penske Media Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ Ryan, Kyle (23 tháng 12 năm 2013). “The people have spoken: The 2013 A.V. Club Readers’ Poll results”. The A.V. Club. The Onion, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  6. ^ Karmali, Luke (13 tháng 3 năm 2014). “BAFTA Games Awards 2014 Winners Announced”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  7. ^ O'Rourke, Patrick (17 tháng 12 năm 2013). “Top video games of 2013: What's this year's best game?”. Canada.com. Postmedia News. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  8. ^ Hussain, Tamoor (26 tháng 10 năm 2013). “Golden Joysticks 2013: Full list of winners”. Computer and Video Games. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  9. ^ Aziz, Hamza (12 tháng 6 năm 2012). “Destructoid's Best of E3 2012 winners revealed!”. Destructoid. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  10. ^ Hansen, Steven (24 tháng 12 năm 2013). “The winner of Destructoid's 2013 Game of the Year”. Destructoid. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  11. ^ Sterling, Jim (5 tháng 6 năm 2013). “Review: The Last of Us”. Destructoid. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ “17th Annual D.I.C.E. Awards”. Academy of Interactive Arts & Sciences. 7 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ Mathé, Charlotte; Reynolds, Matthew (1 tháng 7 năm 2014). “Games out this month: 10 biggest releases for July”. Digital Spy. Hearst Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  14. ^ Lee, Ben (21 tháng 4 năm 2015). “Maisie Williams on The Last of Us movie: 'It's very, very early days'. Digital Spy. Hearst Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017. 
  15. ^ Hansen, Steven (24 tháng 12 năm 2013). “The winner of Destructoid's best of 2013 visuals”. Destructoid. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  16. ^ “The Electric Playground's Best of E3 Winners”. The Electric Playground. Greedy Productions Ltd. 11 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ “EGM Presents: The Best of E3 2012”. Electronic Gaming Monthly. EGM Media, LLC. 11 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  18. ^ “The Escapist Awards - Game of the Year 2013”. The Escapist. 11 tháng 1 năm 2014. tr. 1. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014. 
  19. ^ “The Edge awards 2013: studio of the year”. Edge. Future plc. 30 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2014. 
  20. ^ Killingsworth, Jason (24 tháng 6 năm 2013). “Sexism sells? The Last of Us begs to differ”. Edge. Future plc. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  21. ^ Gilbert, Ben (14 tháng 2 năm 2014). “Necessary violence: The creators of The Last of Us defend its reliance on combat”. Engadget. AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. 
  22. ^ “The Winners of The Escapist Awards and Game of the Year Nominees”. The Escapist. 1 tháng 1 năm 2014. tr. 6. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014. 
  23. ^ Gibson, Ellie (5 tháng 7 năm 2013). “The Last of Us isn't the solution to sexism in games, but it's a start”. Eurogamer. Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  24. ^ “Browse and Search Games — Highest Rated Video Games for 2013”. GameRankings. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  25. ^ Bischoff, Daniel (20 tháng 12 năm 2013). “Game of the Year 2013”. Game Revolution. CraveOnline. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  26. ^ “The Last of Us - GameSpot's Best of E3 2012 Editors' Choice Awards”. GameSpot. CBS Interactive. 4 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  27. ^ Makuch, Eddie (9 tháng 12 năm 2014). “The Last of Us PS4 Gets Brutal Executions Not Possible on PS3”. GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ Petit, Carolyn (3 tháng 7 năm 2013). “The Last of Us and Grading on the Gender Curve”. GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  29. ^ Watters, Chris (9 tháng 8 năm 2013). “Something to Lose: The Pitfalls and Potential of Competitive Multiplayer”. GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  30. ^ Haywald, Justin (16 tháng 7 năm 2014). “The Last of Us Remastered Devs Discuss Making 60fps the New Standard in Games”. GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015. 
  31. ^ “Game of the year 2013”. GamesRadar. Future plc. 21 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  32. ^ Wilson, Tony. “The Last of Us Remastered - Collectibles guide”. GamesRadar. Future plc. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ Einhorn, Sam (3 tháng 9 năm 2013). “The Last of Us Has a Gay Character. Really!”. GayGamer.net. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ “Giant Bomb's 2013 Game of the Year Awards: Day Three”. Giant Bomb. CBS Interactive. 25 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  35. ^ “Giant Bomb's 2013 Game of the Year Awards: Day Five”. Giant Bomb. CBS Interactive. 27 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  36. ^ Pitcher, Jenna (20 tháng 3 năm 2014). “The Last of Us cleans up at the 2014 Game Developer Choice Awards”. Polygon. Vox Media. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  37. ^ Good Game (3 tháng 12 năm 2013). “Good Game Stories - Award - Best Game”. Australian Broadcasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013. 
  38. ^ “The most intriguing new LGBT characters of 2013”. GLAAD. 26 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  39. ^ “PS3 Game of the Year 2013 Winner”. GameSpot. 13 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  40. ^ GT's Game of the Year!. GameTrailers. 10 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  41. ^ “Giant Bomb's 2013 Game of the Year Awards: Day Two”. Giant Bomb. CBS Interactive. 24 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  42. ^ Stuart, Keith (20 tháng 6 năm 2012). “Does The Last of Us fetishise violence?”. The Guardian. Guardian Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015. 
  43. ^ “2013 Best Action Game”. Hardcore Gamer. 19 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  44. ^ “2013 The Troy Baker Award”. Hardcore Gamer. 21 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  45. ^ “2013 Best New IP”. Hardcore Gamer. 21 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  46. ^ “2013 Best Story”. Hardcore Gamer. 21 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  47. ^ “2013 Best Developer”. Hardcore Gamer. 21 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  48. ^ “2013 Game of the Year Award”. Hardcore Gamer. 22 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  49. ^ “2013 Best PS3 Game”. Hardcore Gamer. 21 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  50. ^ Elise, Abigail (14 tháng 11 năm 2013). “The Five Best Video Games of 2013: Why We'll Miss This Current Generation of Consoles”. International Business Times. IBT Media. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  51. ^ IGN Australia (21 tháng 12 năm 2013). “IGN AU's Top 12 Games of 2013”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  52. ^ “Overall - IGN's Best of 2013”. IGN. Ziff Davis. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  53. ^ “Best Overall Sound - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  54. ^ “Best PS3 Sound - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  55. ^ “Best PS3 Multiplayer Game - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  56. ^ “Best PS3 Action-Adventure Game - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  57. ^ “Best PS3 Story - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  58. ^ “Best Overall Graphics - Technology - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  59. ^ “Best PS3 Graphics - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  60. ^ “Best Overall Action-Adventure Game - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  61. ^ “Best PS3 Game - IGN's Best of 2013”. IGN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  62. ^ Karmali, Luke (10 tháng 4 năm 2014). “The Last of Us PS4 Development Began Ages Ago”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015. 
  63. ^ Watts, Steve (27 tháng 1 năm 2016). “The Last of Us Movie to Have 'Big Changes'. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016. 
  64. ^ Moriarty, Colin (9 tháng 4 năm 2014). “The Last of Us Remastered: First Details, Pre-Order Info”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015. 
  65. ^ MacDonald, Keza (19 tháng 2 năm 2014). “The Significance of The Last of Us: Left Behind”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015. 
  66. ^ Moriarty, Colin (28 tháng 8 năm 2013). “This Is The Last of Us' New Multiplayer Mode”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  67. ^ Karmali, Luke (9 tháng 6 năm 2014). “E3 2014: The Last of Us: Remastered PS4 Release Date Announced”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015. 
  68. ^ Vejvoda, Jim (6 tháng 3 năm 2014). “Screen Gems to Distribute Sam Raimi-Produced The Last of Us Movie”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  69. ^ Vejvoda, Jim (15 tháng 11 năm 2016). “Producer Sam Raimi Says The Last of Us Movie Stuck at a 'Standstill'. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017. 
  70. ^ Schwartz, Terri (4 tháng 4 năm 2016). “Naughty Dog's Neil Druckmann Offers Updates on Uncharted, Last of Us Movies”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016. 
  71. ^ Kietzmann, Ludwig (17 tháng 5 năm 2013). “The Last of Us: Bricks, bottles and a few bullets”. Joystiq. AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  72. ^ Totilo, Stephen (30 tháng 12 năm 2013). “Pranksters Almost Voted An Erotic Game As Our Readers' Game of the Year”. Kotaku. Gawker Media. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  73. ^ Totilo, Stephen (30 tháng 12 năm 2013). “The Last of Us Is Kotaku's Game of the Year”. Kotaku. Gawker Media. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  74. ^ Hamilton, Kirk (17 tháng 2 năm 2014). “Video Gaming's Latest Breakthrough Moment”. Kotaku. Gawker Media. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015. 
  75. ^ Hamilton, Kirk (29 tháng 7 năm 2014). “The Last of Us: The Kotaku Review”. Kotaku. Gawker Media. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  76. ^ LeJacq, Yannick (10 tháng 6 năm 2014). “The Last Of Us Is Coming To The PS4 On July 30”. Kotaku. Gawker Media. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2017. 
  77. ^ Lavoy, Bill (tháng 8 năm 2014). “The Last of Us Remastered Beginners Tips”. Prima Games. Random House. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  78. ^ “Highest Rated Video Games for 2013”. Metacritic. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  79. ^ GameCentral (1 tháng 8 năm 2014). “The Last Of Us Remastered interview – 'How much more immersive can this be?'. Metro. DMG Media. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015. 
  80. ^ Jenkins, David (5 tháng 6 năm 2013). “The Last Of Us review – clicking together”. Metro. DMG Media. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  81. ^ Silver, Dan (12 tháng 12 năm 2013). “Top games of 2013: Five best video games to buy for Christmas”. Daily Mirror. Trinity Mirror. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  82. ^ Makuch, Eddie (5 tháng 6 năm 2013). “The Last of Us multiplayer detailed”. GameSpot. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  83. ^ Allen, Thomas J. (7 tháng 2 năm 2014). “2013 NAVGTR Winners”. National Academy of Video Game Trade Reviewers. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  84. ^ Suellentrop, Chris (14 tháng 6 năm 2013). “In the Video Game The Last of Us, Survival Favors the Man”. The New York Times. Arthur Ochs Sulzberger, Jr. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  85. ^ Lavoy, Bill (tháng 8 năm 2014). “The Last of Us Remastered - All Optional Conversations - I Want to Talk About It”. Prima Games. Random House. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  86. ^ Monacelli, Eric (22 tháng 7 năm 2014). “How The Last of Us Remastered Enhances Multiplayer”. PlayStation Blog. Sony Computer Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  87. ^ Ashraf, Jawad (30 tháng 7 năm 2014). “New on PlayStation Store: The Last of Us Remastered, Rogue Legacy, more”. PlayStation Blog. Sony Computer Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2017. 
  88. ^ Yoon, Andrew (20 tháng 5 năm 2013). “A guide to crafting in The Last of Us”. Shacknews. Gamerhub. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  89. ^ Hoggins, Tom (31 tháng 12 năm 2013). “Telegraph Video Game Awards 2013”. The Daily Telegraph. London: Telegraph Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  90. ^ Hoggins, Tom (9 tháng 6 năm 2012). “E3 2012: Best in show”. The Daily Telegraph. Telegraph Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  91. ^ Nunneley, Stephany (11 tháng 1 năm 2014). “VG247 Community Games of the Year”. VG247. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  92. ^ Dane, Patrick (7 tháng 12 năm 2013). 'Grand Theft Auto V' Tops Spike VGX 2013 Award Winners List”. Game Rant. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  93. ^ Burns, Steven (31 tháng 12 năm 2013). “Game of the Year 2013: - No.1: The Last of Us”. VideoGamer.com. Pro-G Media Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  94. ^ “WGA Award Winners & More — 2014 Writers Guild Awards”. Deadline Hollywood. Penske Media Corporation. 1 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  95. ^ Hillier, Brenna (19 tháng 7 năm 2013). “NPD June: The Last of Us, Animal crossing top charts”. VG247. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  96. ^ “Les Meilleures Ventes De Jeux Vidéo” [The Best Video Game Sales] (bằng tiếng Pháp). SELL. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  97. ^ “Top 20 Entertainment Software (All Prices), Week Ending 15 June 2013”. Chart-Track. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  98. ^ Pugliese, Tommaso (tháng 7 năm 2013). “Le classifiche italiane per il mese di giugno” [The Italian charts for the month of June] (bằng tiếng Ý). Multiplayer.it. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  99. ^ “GfK Dutch Game Charts” (bằng tiếng Dutch). NVPI. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  100. ^ “Swedish Games chart total, week 26 2013”. GfK. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  101. ^ “Ranking de videojuegos más vendidos” [Ranking of top selling games]. Española de Distribuidores y Editores de Software de Entretenimiento (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  102. ^ “「The Last of Us」が11万7000本で1位に。「ネプテューヌPP」「クマ・トモ」「さよなら 海腹川背」なども発売された「週間販売ランキング+」” ["The Last of Us" is in first place in the 117 000 this. "Neptunia PP", "bear Tomo" "Goodbye Umihara Kawase", etc. were also released "weekly sales rankings +"]. 4Gamer.net (bằng tiếng Japanese). Aetas Inc. 26 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  103. ^ Agnello, Anthony John (27 tháng 12 năm 2013). “2013 in Review: In The Last of Us, No Death is Meaningless”. USGamer. Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. 
  104. ^ Yin-Poole, Wesley (9 tháng 7 năm 2013). “Sony declares The Last of Us a success with over 3.4 million global sales”. Eurogamer. Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  105. ^ Tassi, Paul (18 tháng 6 năm 2013). 'The Last of Us' Has The Biggest Launch Of The Year With 1.3M Sold”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  106. ^ Weber, Rachel (22 tháng 7 năm 2013). “6 weeks on top for The Last of Us”. Gamesindustry.biz. Gamer Network. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  107. ^ Ivan, Tom (9 tháng 7 năm 2013). “The Last of Us is PS3's fastest selling new franchise”. GamesRadar. Future plc. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  108. ^ French, Michael (17 tháng 6 năm 2013). “UK CHARTS: The Last of US is No.1”. Market for Home Computing and Video Games. Intent Media. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  109. ^ “100 best-selling video games of 2013 revealed”. Metro. DMG Media. 16 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  110. ^ Sarkar, Samit (14 tháng 6 năm 2018). “The Last of Us sales top 17 million copies across PS3 and PS4”. Polygon. Vox Media. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  111. ^ Dutton, Fred (7 tháng 10 năm 2013). “PlayStation Store charts, September: GTA5 and Killzone Mercenary take top honours”. PlayStation Blog. Sony Computer Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  112. ^ Dunning, Jason (1 tháng 9 năm 2014). “The Last of Us Remastered Crosses One Million Sold Worldwide”. PlayStation LifeStyle. CraveOnline. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  113. ^ Moriarty, Colin (12 tháng 12 năm 2011). “Naughty Dog Officially Split Into Two Teams”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  114. ^ Hansen, Ben (22 tháng 2 năm 2012). “New Tricks: An Interview With Naughty Dog's Co-Presidents”. Game Informer. GameStop. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  115. ^ Hanson, Ben (20 tháng 2 năm 2012). “Capturing Joel And Ellie For The Last Of Us”. Game Informer. GameStop. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  116. ^ Smith, Edward (5 tháng 6 năm 2013). “The Last of Us, Neil Druckmann and Less Being More”. International Business Times. IBT Media. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2014. 
  117. ^ Robertson, Andy (31 tháng 5 năm 2013). “The Last of Us: interview with Neil Druckmann and Ashley Johnson”. The Daily Telegraph. Telegraph Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  118. ^ Gera, Emily (16 tháng 5 năm 2012). “The Last of Us gets new trailer, reveals Ellie redesign”. Polygon. Vox Media. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  119. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  120. ^ “The Last Of Us: the definitive postmortem – spoilers be damned - Page 2 of 3”. Edge. Future plc. 18 tháng 6 năm 2013. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  121. ^ “Grounded: Making The Last of Us”. Edge. Sony Computer Entertainment. 24 tháng 2 năm 2014. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2014. 
  122. ^ http://www.polygon.com/2013/6/23/4457258/naughty-dog-discusses-sound-and-music-in-the-last-of-us.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  123. ^ Farokhmanesh, Megan (18 tháng 6 năm 2013). “The Last Of Us: the definitive postmortem – spoilers be damned”. Polygon. Future plc. tr. 1. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  124. ^ “The Last Of Us: the definitive postmortem – spoilers be damned - Page 3 of 3”. Edge. Future plc. 18 tháng 6 năm 2013. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  125. ^ Perkins, Will (10 tháng 9 năm 2013). “The Last of Us (2013)”. Edge. Art of the Title. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2015. 
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “7th Gen” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Bên ngoài đường dẫn[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu