Tiền ảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tiền ảo là một loại tiền kỹ thuật số không được kiểm soát, được phát hành và thường được kiểm soát bởi các nhà phát triển của nó và được sử dụng và chấp nhận giữa các thành viên của một cộng đồng ảo cụ thể. Vào năm 2014, Cơ quan Ngân hàng Châu Âu định nghĩa tiền ảo là "một đại diện kỹ thuật số về giá trị không được phát hành bởi ngân hàng trung ương hoặc cơ quan công quyền, cũng không nhất thiết phải gắn với tiền tệ fiat, nhưng được chấp nhận bởi các thể nhân hoặc pháp nhân như một phương tiện thanh toán và có thể được chuyển nhượng, lưu trữ hoặc giao dịch điện tử ”. Ngược lại, một loại tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành được định nghĩa là " tiền tệ kỹ thuật số của ngân hàng trung ương ".

Các định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2012, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã định nghĩa tiền ảo là "một loại tiền kỹ thuật số, không được kiểm soát, được phát hành và thường được kiểm soát bởi các nhà phát triển của nó, đồng thời được sử dụng và chấp nhận giữa các thành viên của một cộng đồng ảo cụ thể". [1] :13

Vào năm 2013, Mạng lưới Thực thi Tội phạm Tài chính Hoa Kỳ (FinCEN), một văn phòng của Bộ Tài chính Hoa Kỳ, trái ngược với các quy định của nó xác định tiền tệ là "tiền xu và tiền giấy của Hoa Kỳ hoặc của bất kỳ quốc gia nào khác [i] được chỉ định là hợp pháp đấu thầu và [ii] lưu hành và [iii] thường được sử dụng và chấp nhận như một phương tiện trao đổi tại quốc gia phát hành ", còn được FinCEN gọi là" tiền tệ thực ", đã định nghĩa tiền ảo là" một phương tiện trao đổi hoạt động giống như một tiền tệ trong một số môi trường, nhưng không có tất cả các thuộc tính của tiền tệ thực ". Đặc biệt, tiền ảo không có tư cách đấu thầu hợp pháp ở bất kỳ khu vực tài phán nào. [2]

Vào năm 2014, Cơ quan Ngân hàng Châu Âu định nghĩa tiền ảo là "một đại diện kỹ thuật số về giá trị không được phát hành bởi ngân hàng trung ương hoặc cơ quan công quyền, cũng không nhất thiết phải gắn với tiền định danh, nhưng được chấp nhận bởi các thể nhân hoặc pháp nhân như một phương tiện thanh toán và có thể được chuyển nhượng, lưu trữ hoặc giao dịch điện tử ”. [3]

Vào năm 2018, Chỉ thị (EU) 2018/843 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu có hiệu lực. Chỉ thị xác định thuật ngữ "tiền ảo" có nghĩa là "một đại diện kỹ thuật số về giá trị không được phát hành hoặc bảo đảm bởi ngân hàng trung ương hoặc cơ quan công quyền, không nhất thiết phải gắn với một loại tiền tệ được thành lập hợp pháp và không có tư cách pháp lý của tiền tệ hoặc tiền, nhưng được các thể nhân hoặc pháp nhân chấp nhận như một phương tiện trao đổi và có thể được chuyển giao, lưu trữ và giao dịch điện tử ". [4]

Các loại tiền ảo phổ biến tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 4/2021, Việt Nam có hơn 20 loại tiền ảo phổ biến dựa trên cộng đồng người tham gia. Điểm qua top 10 đồng tiền ảo phổ biến nhất:

1. Bitcoin (BTC)[sửa | sửa mã nguồn]

Bitcoin là một loại tiền mã hóa được phát minh vào năm 2008 và bắt đầu ra mắt thị trường vào tháng 1/2009. Ra mắt với giá cực thấp nhưng hiện tại, Giá Bitcoin ngày 16/4/2021 là $60.850,92 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $68.545.777.383 USD. Hiện tại, số đồng Bitcoin đang lưu hành là 18.684.093 BTC và lượng cung tối đa có thể lên đến 21.000.000 BTC đồng coin.

Các sàn giao dịch Bitcoin phổ biến hiện nay là Binance, Huobi Global, OKEx, FTX, và CoinTiger.

2. Ethereum (ETH)[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng sau Bitcoin, Ethereum là loại tiền điện tử lớn thứ 2 thế giới theo tổng vốn hóa thị trường. Ethereum được giới thiệu vào cuối năm 2013 bởi một người chuyên nghiên cứu về lập trình tiền ảo có tên Vitalik Buterin.

Giá Ethereum ngày 16/4/2021 là $2.396,12 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $33.172.939.922 USD. Hiện tại, tổng vốn hóa thị trường của ETH là $276.726.562.581 USD. Lượng ETH đang lưu hành là 115.489.681 ETH đồng coin và chưa có số xác thực lượng cung tối đa trên thị trường.

3. Binance Coin (BNB)[sửa | sửa mã nguồn]

BNB đã ra mắt thông qua đợt chào bán đồng tiền mã hóa lần đầu vào năm 2017, 11 ngày trước khi sàn giao dịch tiền mã hóa Binance ra mắt. Ban đầu, BNB được phát hành dưới dạng token ERC-20 chạy trên mạng Ethereum, với tổng nguồn cung tối đa là 200 triệu đồng coin và 100 triệu BNB được cung cấp trong ICO. Tuy nhiên, đồng coin ERC-20 BNB đã được hoán đổi với BEP2 BNB theo tỷ lệ 1:1 vào tháng 4 năm 2019 với sự ra mắt của mạng chính thức Binance Chain và hiện không còn được lưu trữ trên Ethereum nữa.

BNB có thể được sử dụng như một phương thức thanh toán, một token tiện ích để thanh toán phí trên sàn giao dịch Binance và để tham gia vào việc bán token trên Binance launchpad. BNB cũng cấp quyền cho Binance DEX (sàn giao dịch phi tập trung).

Giá Binance Coin ngày 16/4/2021 là $531,61 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $5.865.288.002 USD. Tổng với vốn hóa thị trường là $81.565.709.961 USD. Lượng BNB đang lưu hành là 153.432.897 BNB đồng coin và lượng cung tối đa là 170.532.785 BNB đồng coin.

4. RIPPLE (XRP)[sửa | sửa mã nguồn]

XRP là đồng tiền chạy trên nền tảng thanh toán kỹ thuật số gọi là RippleNet, nằm trên cơ sở dữ liệu sổ cái phân tán được gọi là XRP Ledger. Còn RippleNet được điều hành bởi một công ty có tên là Ripple, XRP Ledger là nguồn mở và không dựa trên blockchain, mà là cơ sở dữ liệu sổ cái phân tán đã đề cập trước đây. Nền tảng thanh toán RippleNet là hệ thống thanh toán gộp theo thời gian thực (RTGS) nhằm mục đích cho phép các giao dịch tiền tệ tức thì trên toàn cầu. Mặc dù XRP là tiền mã hóa có nguồn gốc từ XRP Ledger, nhưng bạn thực sự có thể sử dụng bất kỳ loại tiền tệ nào để giao dịch trên nền tảng này. Mặc dù ý tưởng đằng sau nền tảng thanh toán Ripple lần đầu tiên được Ryan Fugger công bố vào năm 2004, nhưng phải đến khi Jed McCaleb và Chris Larson tiếp quản dự án vào năm 2012 thì Ripple mới bắt đầu được xây dựng (tại thời điểm đó, nó còn được gọi là OpenCoin).

Giá XRP ngày 16/4/2021 là $1,63 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $15.450.753.618 USD. Tổng vốn hóa thị trường là $74.029.341.011 USD. Lượng XRP đang lưu hành là 45.404.028.640 XRP đồng coin và lượng cung tối đa là 100.000.000.000 XRP đồng coin.

5. Tether (USDT)[sửa | sửa mã nguồn]

Tether (USDT) là loại tiền kỹ thuật số có giá trị phản ánh giá trị của đồng đô la Mỹ. Ra mắt vào năm 2014, ý tưởng đằng sau Tether là tạo ra một loại tiền mã hóa ổn định có thể được sử dụng như đồng đô la kỹ thuật số hoặc “stablecoin.“ Tether được neo giữ hoặc “gắn chặt,“ với giá của đồng đô la Mỹ. Mặc dù ban đầu Tether sử dụng Lớp Omni của mạng Bitcoin làm giao thức truyền tải nhưng hiện giờ Tether đã có sẵn dưới dạng token ERC20 trên Ethereum. Tổng cộng, Tether được phát hành trên các blockchain Bitcoin (cả Omni và Liquid Protocol), Ethereum, EOS và Tron.

Token Tether được phát hành bởi Tether Limited, công ty có chung CEO với sàn giao dịch tiền mã hóa Bitfinex. Trước đây, Tether tuyên bố rằng đồng Tether được hỗ trợ 100% bởi các khoản dự trữ của Tether. Tuy nhiên, sau khi các luật sư của Tether chú thích vào năm 2019 rằng chỉ có 74% được hỗ trợ bởi Tether hoặc một khoản dự trữ nhỏ thì Tether mới lưu ý rằng định nghĩa về tổng giá trị hỗ trợ bao gồm cả khoản tiền cho các công ty liên kết vay.

Giá Tether ngày 16/4/2021 là $1,00 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $173.143.898.711 USD. Tổng vốn hóa thị trường của USTD là $47.006.872.194 USD. Lượng cung USTD đang lưu hành là 46.871.412.194 USDT đồng coin và chưa xác định lượng cung tối đa.

6. Cardano (ADA)[sửa | sửa mã nguồn]

Cardano là nền tảng blockchain bằng chứng cổ phần cho biết mục tiêu của mình là cho phép “những người thay đổi, những người đổi mới và những người có tầm nhìn xa” mang lại sự thay đổi tích cực trên toàn cầu. Dự án nguồn mở này cũng hướng tới việc “phân bổ lại quyền lực từ các cấu trúc không chịu trách nhiệm cho tới biên cho các cá nhân” — giúp tạo ra xã hội an toàn, minh bạch và công bằng hơn.

Cardano được thành lập vào năm 2017 và token ADA được thiết kế để đảm bảo rằng chủ sở hữu có thể tham gia vào việc vận hành mạng. Vì lý do này, những người nắm giữ tiền mã hóa có quyền bình chọn mọi đề xuất thay đổi phần mềm. Nhóm nghiên cứu tạo ra blockchain phân lớp này cho biết đã có một số trường hợp sử dụng công nghệ của họ theo cách đầy thú vị. Mục đích của nhóm là cho phép các ứng dụng phi tập trung và hợp đồng thông minh phát triển theo modul.

Giá Cardano ngày 16/4/2021 là $1,42 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $5.346.121.913 USD. Tổng vốn hóa thị trường là $45.410.079.265 USD. Lượng cung ADA đang lưu hành là 31.948.309.441 ADA đồng coin và lượng cung tối đa là 45.000.000.000 ADA đồng coin.

7. Polkadot (DOT)[sửa | sửa mã nguồn]

Polkadot là giao thức đa chuỗi phân mảnh mã nguồn mở hỗ trợ việc chuyển chéo chuỗi bất kỳ loại dữ liệu hoặc tài sản nào, không chỉ token. Bằng cách đó, một loạt blockchain có thể tương tác với nhau. Cơ chế tương tác này tìm cách thiết lập một web hoàn toàn phi tập trung và riêng tư do người dùng kiểm soát và đơn giản hóa quy trình tạo các ứng dụng, tổ chức và dịch vụ mới.

Giao thức Polkadot kết nối các chuỗi công cộng và riêng tư, mạng không cần cấp phép, oracle và các công nghệ tương lai, cho phép các blockchain độc lập này chia sẻ thông tin và giao dịch một cách theo cách phi tín nhiệm thông qua chuỗi chuyển tiếp Polkadot (giải thích thêm ở phần dưới). Token gốc của Polkadot là DOT phục vụ ba mục đích rõ ràng: cung cấp chức năng hoạt động và quản trị mạng, đồng thời tạo các parachain (chuỗi song song) bằng cách liên kết.

Giá Polkadot ngày 16/4/2021 là $42,08 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $2.558.197.893 USD. Tổng vốn hóa thị trường là $39.126.416.106 USD. Lượng cung DOT đang lưu hành là 929.764.889 DOT đồng coin và chưa xác thực lượng cung tối đa.

8. Dogecoin (DOGE)[sửa | sửa mã nguồn]

Dogecoin (DOGE) dựa trên hình chế "doge" nổi tiếng trên mạng Internet với hình chú chó Shiba Inu trên logo. Đồng tiền kỹ thuật số nguồn mở này được tạo ra bởi Billy Markus đến từ thành phố Portland, tiểu bang Oregon và Jackson Palmer đến từ thành phố Sydney, Úc. Dogecoin được phân tách từ Litecoin vào tháng 12 năm 2013. Những người tạo ra Dogecoin dự tính đồng tiền này sẽ là đồng tiền mã hóa thú vị, vui nhộn, có sức hấp dẫn hơn cả đồng Bitcoin cơ bản, vì Dogecoin dựa trên hình chế một chú chó. Giám đốc điều hành Tesla là Elon Musk đã đăng một số dòng tweet trên mạng xã hội rằng Dogecoin là đồng coin yêu thích của ông.

Giá Dogecoin ngày 16/4/2021 là $0,267665 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $38.938.902.803 USD. Tổng vốn hóa thị trường là $34.585.008.519 USD. Lượng cung DOGE đang lưu hành là 129.210.007.256 DOGE đồng coin và chưa xác thực lượng cung tối đa.

9. Uniswap (UNI)[sửa | sửa mã nguồn]

Uniswap là giao thức giao dịch phi tập trung phổ biến, được biết đến với vai trò hỗ trợ giao dịch tự động các token tài chính phi tập trung (DeFi). Uniswap nhằm mục đích giúp việc giao dịch token tự động và hoàn toàn mở cho bất kỳ ai nắm giữ token, đồng thời cải thiện hiệu quả giao dịch so với trên các sàn giao dịch truyền thống.

Uniswap đem lại hiệu quả cao hơn bằng cách giải quyết các vấn đề về thanh khoản thông qua các giải pháp tự động, tránh các vấn đề gây khó khăn cho các sàn giao dịch phi tập trung đầu tiên. Vào tháng 9 năm 2020, Uniswap đã tiến một bước xa hơn bằng cách tạo và thưởng mã token của riêng mình, UNI, cho những người dùng giao thức trước đây. Điều này đã bổ sung thêm cả tiềm năng sinh lời và khả năng định hình tương lai đồng tiền của người dùng — một khía cạnh hấp dẫn của các thực thể phi tập trung.

Giá Uniswap ngày 16/4/2021 là $36,94 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $1.017.647.339 USD. Tổng vốn hóa thị trường là $19.334.259.795 USD. Lượng cung UNI đang lưu hành là 523.385.460 UNI đồng coin và lượng cung tối đa là 1.000.000.000 UNI đồng coin.

10. Litecoin (LTC)[sửa | sửa mã nguồn]

Litecoin (LTC) là một đồng tiền điện tử được tạo ra để cung cấp các khoản thanh toán nhanh chóng, an toàn và chi phí thấp bằng cách tận dụng các thuộc tính độc đáo của công nghệ blockchain. Đây là một đồng tiền điện tử được tạo dựa trên giao thức Bitcoin (BTC), nhưng lại khác về thuật toán băm được sử dụng, tổng số vốn tối đa, số lần giao dịch khối và một số yếu tố khác. Litecoin có thời gian thực hiện một khối chỉ 2,5 phút và phí giao dịch cực thấp, phù hợp với các giao dịch vi mô và các thanh toán bằng máy thanh toán thẻ.

Litecoin được phát hành thông qua một ứng dụng mã nguồn mở trên GitHub vào ngày 7 tháng 10 năm 2011, và Mạng lưới Litecoin hoạt động 5 ngày sau đó vào ngày 13 tháng 10 năm 2011. Tiền điện tử do Charlie Lee sáng tạo ra. Anh là một cựu nhân viên của Google và là người dự kiến Litecoin sẽ trở thành một "phiên bản thu nhỏ của Bitcoin", trong đó nó có nhiều đặc tính giống như Bitcoin mặc dù có giá trị nhỏ hơn.

Giá Litecoin ngày 16/4/2021 là $281,21 USD với khối lượng giao dịch trong 24 giờ là $7.946.933.773 USD. Tổng vốn hóa thị trường là $18.771.320.321 USD. Lượng cung LTC đang lưu hành là 66.752.415 LTC đồng coin và lượng cung tối đa là 84.000.000 LTC đồng coin.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ European Central Bank (tháng 10 năm 2012). “1”. Virtual Currency Schemes (PDF). Frankfurt am Main: European Central Bank. tr. 5. ISBN 978-92-899-0862-7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012.
  2. ^ “FIN-2013-G001: Application of FinCEN's Regulations to Persons Administering, Exchanging, or Using Virtual Currencies”. Financial Crimes Enforcement Network. 18 tháng 3 năm 2013. tr. 6. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015.
  3. ^ “EBA Opinion on 'virtual currencies” (PDF). European Banking Authority. 4 tháng 7 năm 2014. tr. 46. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2014.
  4. ^ Directive (EU) 2018/843 of the European Parliament and of the Council of 30 May 2018 amending Directive (EU) 2015/849 on the prevention of the use of the financial system for the purposes of money laundering or terrorist financing, and amending Directives 2009/138/EC and 2013/36/EU (Text with EEA relevance) (bằng tiếng Anh)