Trấn Vũ
Bài này không có nguồn tham khảo nào. (tháng 10/2021) |
| Trấn Vũ (鎮武) | |||||
|---|---|---|---|---|---|
Tượng đồng đen thần Trấn Vũ tại đền Quán Thánh | |||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | Đại La Cảnh Thượng Vô Dục Thiên Cung (大羅境上無慾天宮) | ||||
| |||||
| Thân phụ | Tịnh Lạc Quốc vương (凈樂國王) | ||||
| Thân mẫu | Thiện Thắng Hoàng hậu (善勝皇后) | ||||
| Tôn giáo | Đạo giáo | ||||
Trấn Vũ (hay Trấn Võ, Chân Vũ, Chấp Minh (執明)) là thần tượng trưng cho sao Bắc cực, thống trị phương Bắc, quản lý các loài thủy tộc trong tín ngưỡng Đạo giáo.
Huyền Thiên Thượng Đế nguyên xưng là Huyền Vũ Đại Đế. Đến năm Đại Trung Tường Phù thứ năm (1012) đời Tống Chân Tông, vì kỵ húy tên Thánh Tổ Triệu Huyền Lãng nên đổi xưng là Chân Vũ. Thông xưng là Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế. Thường được giản xưng là: Huyền Đế, Bắc Đế, Hắc Đế, Chân Vũ Đại Đế.
Ngoài ra còn có các tôn hiệu: Huyền Vũ Thần, Chân Vũ Thần, Nguyên Vũ Thần, Huyền Vũ Đại Đế, Nguyên Thiên Thượng Đế, Khai Thiên Đại Đế, Bắc Cực Đại Đế, Bắc Cực Hựu Thánh Chân Quân, Hựu Thánh Chân Quân, Đãng Ma Thiên Tôn. Trong dân gian còn tục xưng: Thượng Đế Công, Thượng Đế Gia Công, Thượng Đế Gia, Đế Gia, Đế Gia Công, v.v.
Ngài tượng trưng cho Bắc Cung Huyền Vũ trong Nhị Thập Bát Tú, là vị đại thần của Đạo giáo thống lĩnh phương Bắc. Phương Bắc trong Ngũ Hành thuộc hành Thủy, có thể thống lãnh toàn bộ thủy tộc và mọi sự vật liên quan đến nước (vì thế kiêm nhiệm cả chức năng Hải Thần). Do phương Bắc trong Ngũ Sắc thuộc màu đen, nên còn xưng là Thủy Hắc Đế. Huyền Thiên Thượng Đế cũng là vị thần trấn bang hộ quốc của triều Minh, đồng thời là vị thần hàng yêu phục ma và là Chiến Thần.
Đản sinh
[sửa | sửa mã nguồn]Huyền Thiên Thượng Đế đản sinh vào tiết Thượng Tị (mồng Ba tháng Ba âm lịch) – ngày chuyên để trừ tai giải hạn.
Vào ngày thánh đản của Ngài, cũng như các vị thần khác, người dân thường mang nhang, đèn, vàng mã và lễ vật đến dâng cúng, cầu mong tai qua nạn khỏi, được bình an vô sự.
Trong đó, việc hành hương và triều bái tại núi Võ Đang là thịnh hành và long trọng nhất; ngoài ra, các địa phương khác cũng tổ chức lễ mừng thánh đản với quy mô rất lớn, cảnh tượng trang nghiêm và náo nhiệt.
Nguồn gốc và thuộc tính tín ngưỡng
[sửa | sửa mã nguồn]Thuyết Thủy Thần
[sửa | sửa mã nguồn]《Hựu Thánh Chú》 (佑聖咒) xưng Huyền Thiên Thượng Đế là:
“Thái Âm hóa sinh, tinh anh của ngôi vị hành Thủy. Ứng với sao Hư – Nguy ở thượng thiên, Quy – Xà hợp thể. Chu hành Lục Hợp, uy nhiếp vạn linh.”
Vì thế, Bắc Đế thuộc hành Thủy, có thể trị thủy, giáng hỏa, giải trừ tai họa do nước và lửa. Cung nội triều Minh thường kiến lập Chân Vũ miếu để cầu miễn trừ thủy tai và hỏa hoạn.
Do công lao trấn nhiếp quy tinh và mãng linh dưới chân, Ngài được Nguyên Thủy Thiên Tôn sắc phong là Huyền Thiên Thượng Đế.
Thuyết Chiến Thần
[sửa | sửa mã nguồn]Huyền Thiên Thượng Đế chân trần, tay cầm bảo kiếm, dung mạo oai nghiêm, là vị Võ Thần, Chiến Thần trứ danh. Từ thời Nguyên – Minh trở đi, người đời đều tôn Ngài là đại thần bảo hộ võ vận.
Trong nhiều cuộc chinh chiến, kẻ khởi binh thường tuyên xưng được Huyền Thiên Thượng Đế phù hộ, tương tự như Phật môn tôn Tỳ Sa Môn Thiên làm hộ pháp chiến thần.
Phù hộ các Hoàng đế nhà Minh
[sửa | sửa mã nguồn]Tương truyền Chu Nguyên Chương giao chiến với Trần Hữu Lượng, bại trận phải lánh vào núi Võ Đang, ẩn thân trong Chân Vũ miếu để tránh truy binh.
Mạng nhện bị ông vô tình kéo rách, sau khi vào ẩn nấp lại tự nhiên liền như cũ, đánh lừa tai mắt truy binh, nhờ đó thoát hiểm bình an.
Sau khi đăng cơ, Chu Nguyên Chương lập tức hạ chiếu trùng tu miếu vũ, tạc lại thần tượng, ban biển ngạch Bắc Cực Điện, sắc phong Chân Vũ Đại Đế làm Huyền Thiên Thượng Đế. Từ đó, các Hoàng đế nhà Minh đều tôn Ngài là Hộ quốc thần kỳ, dân gian tôn xưng là Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế.
Minh Thành Tổ Chu Đệ đặc biệt sùng phụng Chân Vũ, từng tuyên xưng việc khởi binh Tĩnh Nan thắng lợi là nhờ Chân Vũ phù trợ. Chu Đệ còn tự ví mình là hóa thân của Chân Vũ. Trong các nha môn như giám, ty, cục, xưởng, khố của hoàng gia đều kiến lập Chân Vũ miếu, phụng thờ Chân Vũ Đại Đế, xưng là Trấn Bang Chi Thần.
Thuyết Tinh Tú
[sửa | sửa mã nguồn]Về việc Huyền Thiên Thượng Đế là sự nhân cách hóa của tinh tú nào, có nhiều dị thuyết: Huyền Vũ Thất Tú, Đẩu Tú trong Huyền Vũ Thất Tú, Bắc Đẩu Thất Tinh và Bắc Cực Tử Vi Tinh. Thậm chí có thuyết trộn lẫn hai hoặc ba quan điểm. Sau đây phân biệt từng thuyết:
Huyền Vũ Thất Tú
[sửa | sửa mã nguồn]“Huyền Vũ” nguyên nghĩa là rùa. Bảy tú phương Bắc xếp hình giống rùa nên gọi là Huyền Vũ.
Đến đời Hán xuất hiện đồ tượng Đằng Xà quấn Huyền Vũ, nói dưới Huyền Vũ Thất Tú còn có Đằng Xà tinh. Thực ra Đằng Xà chỉ là một tinh quan thuộc Thất Tú (trong Thất Tú phòng thất). Tuy nhiên hình tượng Quy – Xà hợp thể đã in sâu trong tâm thức dân gian. Đến muộn nhất đời Đường, hình tượng rùa – rắn hợp thể đã định hình.
Sự nhân cách hóa Huyền Vũ Thất Tú khởi từ thời Xuân Thu. Đến đời Đường, Huyền Thiên Thượng Đế lần đầu được sắc phong là Huyền Vũ Đại Đế, chứng tỏ Ngài ban đầu xuất phát từ Huyền Vũ Thất Tú. Hình tượng một chân đạp rùa, một chân đạp rắn chính là biểu tượng của đồ tượng Đằng Xà quấn Huyền Vũ.
Bắc Đẩu Thất Tinh
[sửa | sửa mã nguồn]Về sau, Huyền Thiên Thượng Đế dần được nhân cách hóa thành Bắc Đẩu Thất Tinh và trở thành quan điểm chủ lưu. Kiếm Thất Tinh mà Ngài cầm tượng trưng cho Bắc Đẩu.
Ngài là một trong Bắc Cực Tứ Thánh, hiệu Bắc Cực Trấn Thiên. Bắc Đẩu Thất Tinh cũng được gọi là “Bắc Cực Thất Tinh”.
Nhiều kinh điển như 《Bắc Đẩu Thất Tinh Hộ Ma Bí Yếu Nghi Quỹ》, 《Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bản Mệnh Diên Sinh Chân Kinh》, 《Bắc Cực Thất Nguyên Tử Đình Bí Quyết》 đều xưng Bắc Đẩu là “Bắc Cực”.
Trong các tinh quân, ngoài Bắc Cực Đế Tinh, Tử Vi Tinh và Bắc Cực Tứ Thánh, chỉ có Bắc Đẩu Thất Tinh được xưng là “Bắc Cực”; Huyền Vũ Thất Tú chưa từng được gọi như vậy. Điều này cho thấy sự chuyển hóa từ Huyền Vũ Thất Tú sang Bắc Đẩu Thất Tinh.
Bắc Cực Tinh
[sửa | sửa mã nguồn]Vì Ngài có tôn hiệu “Bắc Cực Trấn Thiên”, nên thường bị cho là nhân cách hóa của Bắc Cực Tinh. Tuy nhiên “Bắc Cực” và “Bắc Cực Tinh” không đồng nhất.
“Bắc Cực” trong thiên văn có ba nghĩa: 1. Thiên Trung (khu vực Tử Vi Tinh Viên). 2. Một tinh quan gồm 5 sao: Thái Tử, Đế, Thứ Tử, Hậu Cung, Thiên Xu. 3. Ngôi sao gần thiên cực Bắc nhất (Bắc Cực Tinh), nhưng do tuế sai nên không cố định.
Thời Tây Chu, Đế Tinh từng là Bắc Cực Tinh; đến Tùy – Đường thì Tử Vi Tinh giữ vị trí này cho đến nay.
Bắc Đẩu nằm trong Tử Vi Viên, quay quanh thiên cực Bắc, nên được xưng “Bắc Cực Thất Tinh”. Còn Nhị Thập Bát Tú nằm ngoài Tử Vi Viên, nên Huyền Vũ Thất Tú không thể gọi là “Bắc Cực”.
Đẩu Tú
[sửa | sửa mã nguồn]Có người nhầm Đẩu Tú (thuộc Huyền Vũ Thất Tú) với Bắc Đẩu Thất Tinh. “Tú” gồm nhiều “tinh quan” hợp thành. Đẩu Tú có 10 tinh quan, tổng 52 sao. Trong đó tinh quan tên “Đẩu” chỉ có 6 sao, chính là Nam Đẩu Lục Tinh, không phải Bắc Đẩu. Bắc Đẩu Thất Tinh thuộc Tử Vi Viên, không thuộc Nhị Thập Bát Tú. Vì vậy Huyền Thiên Thượng Đế có liên hệ với Huyền Vũ Thất Tú và Nam Đẩu Lục Tinh, nhưng không liên hệ trực tiếp với Bắc Đẩu Thất Tinh.
Thuyết Thái Tử
[sửa | sửa mã nguồn]Theo 《Động Minh Bảo Ký dẫn Chân Vũ Báo Ân Kinh》 và 《Thần Tiên Thông Giám》:
Huyền Vũ Đế là đích tử của Tịnh Lạc Quốc Vương, mẫu thân là Thiện Thắng Thiên Hậu. Ngày đản sinh ứng với sao Hư – Nguy. Sinh có dị tướng, tư chất thông minh khác thường.
Là con duy nhất, được lập làm Thái tử (Thanh Cung), cực được sủng ái. Nhưng Ngài luôn nghĩ đến thâm ân phụ mẫu, cho rằng phú quý không thể báo đáp, nên bỏ ngôi vị Thanh Cung, vào Võ Đang Sơn tu hành, “tiễn hình luyện khí”.
Tứ Đại Hộ Pháp tại Bắc Đế Miếu
[sửa | sửa mã nguồn]- Huyền Quan Đế Miếu: Khang, Ân, Mã, Triệu.
- Huyền Quan Nhị Đế Miếu: Vương Thiên Quân.
- Loan Tể Bắc Đế Miếu: Khang, Ôn, Mã, Triệu.
Hộ Pháp Thần Thú
[sửa | sửa mã nguồn]Ngoài Quy – Xà Nhị Tướng, khi Huyền Thiên Thượng Đế tu hành tại Võ Đang Sơn, Ngài ẩn cư tại Thái Tử Nham. Buổi sớm có linh nha báo minh, bên cạnh có Hắc Hổ hộ vệ.
Tục truyền: “Quạ mỏ đỏ, thấy ắt hưng; Hổ đen trừ gian, nghịch ắt họa.”
Hắc Hổ Đại Tướng Quân là thần hộ quốc trấn sơn của Võ Đang Sơn. Nhiều miếu Huyền Thiên Thượng Đế cũng phụng thờ Hắc Hổ Tướng Quân dưới bàn thờ, có công năng trừ ôn dịch và trấn hộ miếu đường. Ngày mồng Sáu tháng Sáu âm lịch là thánh đản của Hắc Hổ Tướng Quân.
Thánh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Đạo Tạng
[sửa | sửa mã nguồn]Trong bộ 《Vạn Lịch Tục Đạo Tạng》 đời Minh có ghi 《Huyền Thiên Thượng Đế Bách Tự Thánh Hiệu》 như sau:
Hỗn Nguyên Lục Thiên, Truyền Pháp Giáo Chủ,
Tu Chân Ngộ Đạo, Tế Độ Quần Mê,
Phổ Huệ Chúng Sinh, Tiêu Trừ Tai Chướng,
Bát Thập Nhị Hóa, Tam Giáo Tổ Sư,
Đại Từ Đại Bi, Cứu Khổ Cứu Nạn,
Tam Nguyên Đô Tổng Quản, Cửu Thiên Du Dịch Sứ,
Tả Thiên Cương Bắc Cực, Hữu Viên Đại Tướng Quân,
Trấn Thiên Trợ Thuận, Chân Vũ Linh Ứng,
Phúc Đức Diễn Khánh, Nhân Từ Chính Liệt,
Hiệp Vận Chân Quân, Trị Thế Phúc Thần,
Ngọc Hư Sư Tướng, Huyền Thiên Thượng Đế,
Kim Khuyết Hóa Thân, Đãng Ma Thiên Tôn.
Các triều đại gia phong
[sửa | sửa mã nguồn]- Tống Chân Tông vì kỵ húy Thánh Tổ Triệu Huyền Lãng nên đổi Huyền Vũ thành Chân Vũ.
- Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông nhiều lần gia phong.
- Minh Thành Tổ khởi nghiệp tại phương Bắc (Yên Kinh), tự cho nhờ thần trợ lực mới có được thiên hạ, nên gia phong đặc biệt trọng hậu.
Trên mạng thường lan truyền thuyết Chân Vũ Đại Đế giáng ở Chung Nam Sơn và được Tống Thái Tông phong “Dực Thánh Tướng Quân”, nhưng đó là ngộ truyền.
Giáng Chung Nam Sơn và được phong “Dực Thánh Tướng Quân” thực ra là Hắc Sát Tướng Quân, một vị trong Bắc Cực Tứ Thánh, không phải Chân Vũ Đại Đế.
《Dương Văn Công Đàm Uyển》 chép rõ: Thời Khai Bảo có thần giáng Chung Nam Sơn… xưng: 'Ta là tôn thần trên trời, hiệu Hắc Sát Tướng Quân, cùng Chân Vũ, Thiên Bồng… liệt làm đại tướng của trời.' Đến khi Thái Tông đăng cơ, dựng cung ở phía bắc Chung Nam Sơn. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ sáu, phong Dực Thánh Tướng Quân. Đã nói rõ Dực Thánh Hắc Sát Tướng Quân không phải Chân Vũ Đại Đế.
Thiên Bồng – Thiên Du – Dực Thánh – Hựu Thánh (Chân Vũ) hợp xưng là Bắc Cực Tứ Thánh.
Các lần gia phong tiêu biểu
[sửa | sửa mã nguồn]- Tống Chân Tông: Trấn Thiên Chân Vũ Linh Ứng Hựu Thánh Chân Quân
- Tống Nhân Tông: Bắc Cực Hữu Viên Trấn Thiên Chân Vũ Linh Ứng Chân Quân
- Tống Huy Tông: Hựu Thánh Chân Vũ Linh Ứng Chân Quân
- Tống Khâm Tông: Hựu Thánh Trợ Thuận Chân Vũ Linh Ứng Chân Quân
- Tống Ninh Tông: Bắc Cực Hựu Thánh Trợ Thuận Chân Vũ Linh Ứng Phúc Đức Chân Quân
- Tống Lý Tông: Bắc Cực Hựu Thánh Trợ Thuận Chân Vũ Phúc Đức Diễn Khánh Nhân Tế Chính Liệt Chân Quân
- Nguyên Thành Tông: Nguyên Thánh Nhân Uy Huyền Thiên Thượng Đế
- Minh Thái Tổ: gia hiệu Huyền Thiên Thượng Đế”, lại phong “Chân Vũ Đãng Ma Thiên Tôn
- Minh Thành Tổ: phong Bắc Cực Trấn Thiên Chân Vũ Huyền Thiên Thượng Đế