Travis Knight

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Travis Knight
Travis Knight (30000495292).jpg
Knight tại liên hoan phim Deauville năm 2016
Sinh13 tháng 9, 1973 (46 tuổi)
Hillsboro, Oregon, Hoa Kỳ
Học vịTrường trung học Jesuit
Học vấnĐại học Portland State
Nghề nghiệpHọa sĩ phim hoạt hình, nhà sản xuất phim, đạo diễn, doanh nhân
Năm hoạt động1995–nay
Cha mẹPhil Knight
Penny Knight

Travis Andrew Knight (sinh ngày 13 tháng 9 năm 1973)[1] là một nghệ sĩ diễn hoạt, đạo diễnnhà sản xuất phim người Mỹ, anh là người đã đóng vai trò là nhà làm phim hoạt hình chính của xưởng phim hoạt hình Laika, đồng thời là đạo diễn của Kubo and the Two Strings (2016) và Bumblebee (2018).

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Knight sinh ra tại Hillsboro, Oregon,[2] một vùng ngoại ô của Portland. Knight là con trai của Penelope "Penny" (Parks) và Phil Knight, nhà sáng lập đồng thời là chủ tịch danh dự của Nike. Knight là cháu trai của nhà báo William W. Knight. Anh từn theo học tại trường trung học Jesuit, gần Beaverton, Oregon. Anh tốt nghiệp đại học Portland State.[3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Knight bắt đầu sự nghiệp âm nhạc như là một rapper với nghệ danh "Chilly Tee". Tận dụng phòng thu âm trong tòa lâu đài của bố, Knight đã tự thu âm năm ca khúc cho album demo.[4] Album nhận được sự chú ý của Bernie Singleton, chủ tịch của MCA, ông sau đó đã đưa bản demo cho nhà sản xuất Hank Shocklee, người này cũng rất thích album demo này và đã đồng ý cho Knight tham gia ra mắt album đầu tay cùng đội sản xuất của mình, The Bomb Squad.

Knight chuyển đến sống trong căn nhà penthouse của bố mẹ ở Manhattan trong 6 tháng để thu âm album. The Bomb Squad đã giúp ông trong việc phát triển phần điệp khúc của các bài hát, vì Shocklee cho rằng rất có năng lực trong khoản viết lời Knight, nhưng khả năng sáng tác điệp khúc lại hơi non.[5]

Vào năm 1993, Knight phát hành album Get Off Mine. Theo cảm nhận của Knight, bản thu này không bán chạy và anh ghét phải biểu diễn chúng. Còn theo Shocklee, "Một trong những lý do mà nó không bán chạy là vì công ty thu âm chưa có nhiều danh tiếng để album được biết đến nhiều hơn, và phần rap cũng chưa đủ nổi bật." Tuy nhiên, Shocklee khá tự hào về album này, ông nói, "Bản thu âm này vẫn không hề tệ. Bạn có thể nghe nó mà vẫn không cảm thấy lỗi thời."

Hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Travis Knight tốt nghiệp trường đại học Portland State, cha của anh đã trở thành nhà đầu tư của xưởng phim Will Vinton và ông đã thuyết phục anh vào làm thực tập ở đây.[6] Anh nhận lời và có tham gia sản xuất series phim truyền hình The PJs của Fox Studios và Gary & Mike của đài UPN, đồng thời là một số dự án quảng cáo trên truyền hình khác.

Đến năm 2003, Phil Knight trở thành ông chủ của hãng phim Will Vinton sau việc hãng phim kinh doanh liên tục thua lỗ do sự quản lý yếu kém của giám đốc cũ, Travis Knight lúc này được chọn để tham gia vào ban lãnh đạo của công ty. Mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất phim, nhưng Travis Knight sau đó đã trở thành một trong những người làm phim hoạt hình xuất sắc nhất trong ngành công nghiệp này. Sau sự ra đi của Vinton, gia đình nhà Knights bắt đầu trong việc tái thiết lại xưởng phim đang trong giai đoạn khó khăn này, và họ đã đổi tên của hãng thành Laika.

Từ năm 2005, Travis Knight chính thức trở thành phó chủ tịch mảng phim hoạt hình của Laika. Anh là nhà sản xuất và cũng là họa sĩ vẽ chính của phim Coraline (2009), ParaNorman (2012) và The Boxtrolls (2014).[7] Anh cũng chính thức có một ghế trong ban giám đốc của Laika.[8] Cùng với Anthony Stacchi và Graham Annable, Knight được đề cử Giải Oscar cho Phim Hoạt hình hay nhất của viện Hàn lâm với bộ phim The Boxtrolls. Vào năm 2014, Knight bắt đầu thử sức với công việc đạo diễn trong bộ phim Kubo and the Two Strings, được phát hành vào năm 2016.[9]

Anh hiện đang là CEO tại Laika, cùng với đó, anh cũng đang là thành viên trong ban giám đốc của công ty do bố mình sáng lập, Nike, Inc., một vị trí mà anh đã thừa nhận vào năm 2015.[10]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Knight đã kết hôn và có ba người con.[11]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Đạo diễn Nhà sản xuất Họa sĩ Ghi chú
2002 Día de Los Muertos Không Không Phim ngắn
2005 Moongirl Không Không
2009 Coraline Không Không
2012 Norman & giác quan thứ sáu Không
2014 Hội quái hộp Không
2016 Kubo và sứ mệnh Samurai Lần đầu làm đạo diễn
2018 Bumblebee[12] Không Không Lần đầu làm đạo diễn phim live-action
2019 Missing Link Không

Phim hoạt hình dài tập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Họa sĩ Ghi chú
2000 Boyer Brothers Phim truyền hình
The PJs Tập: "Haiti and the Tramp"
2001 Gary & Mike

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Phim Kết quả[13]
2010 Giải Annie Nhân vật phim hoạt hình của năm Coraline Đề cử
Giải Kỹ xảo Hình ảnh Cộng đồng Nhân vật hoạt hình xuất sắc nhất trong phim hoạt hình ảnh động
Cùng với Trey Thomas
Đề cử
2012 Awards Circuit Community Awards Phim hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với Arianne Sutner
Norman & giác quan thứ sáu Đề cử
2013 Giải Annie Nhân vật phim hoạt hình của năm Chiến thắng
Online Film & Television Association Awards Phim hoạt hình hay nhất
Cùng với Arianne Sutner
Đề cử
Producers Guild of America Awards Nhà sản xuất phim hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với Arianne Sutner
Đề cử
Visual Effects Society Awards Nhân vật hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với Chris Butler, Sam Fell & Brad Schiff
Đề cử
2015 Giải Oscar Phim hoạt hình hay nhất
Cùng với Anthony Stacchi & Graham Annable
Hội quái hộp Đề cử
Giải Annie Nhân vật phim hoạt hình xuất sắc nhất Đề cử
Producers Guild of America Awards Nhà sản xuất phim hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với David Bleiman Ichioka
Đề cử
Visual Effects Society Awards Nhân vật hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với Jason Stalman, Mike Laubach & Kyle Williams
Đề cử
Phim hoạt hình hay nhất
Cùng với Anthony Stacchi, Graham Annable & Brad Schiff
Đề cử
2017 Giải Oscar[14] Phim hoạt hình hay nhất
Cùng với Arianne Sutner
Kubo và xứ mệnh Samurai Đề cử
Giải Annie[15] Đạo diễn phim hoạt hình xuất sắc nhất Đề cử
Giải BAFTA[16] Best Animated Film Chiến thắng
Chicago Film Critics Association[17] Nhà làm phim tiềm năng nhất Đề cử
Producers Guild of America Award[18] Hình ảnh hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với Arianne Sutner
Đề cử
Visual Effects Society Awards[19] Kỹ xảo hoạt hình xuất sắc nhất
Cùng với Steve Emerson, Brad Schiff và Arianne Sutner
Chiến thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "United States Public Records, 1970-2009," database, FamilySearch (ngày 23 tháng 5 năm 2014), Travis Andrew Knight, Residence, Hillsboro, Oregon, United States; a third party aggregator of publicly available information.
  2. ^ “The rise of Travis Knight, the son of Nike's founder who built an animation powerhouse – The Washington Post”. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ McNichol, Tom. 2009. "Hollywood Knights," Portland Monthly, February. Error in webarchive template: Check |url= value. Empty. Accessed: ngày 24 tháng 5 năm 2012.
  4. ^ https://priceonomics.com/how-the-father-of-claymation-lost-his-company/
  5. ^ http://www.wweek.com/portland/article-22981-hotseat-hank-shocklee-on-travis-chilly-tee-knight.html
  6. ^ Ryan Ball, "Coraline Animator Travis Knight of LAIKA," Animation Magazine, ngày 7 tháng 5 năm 2007 Accessed: ngày 21 tháng 8 năm 2016.
  7. ^ Laika, "Travis Knight, President & CEO". Accessed: ngày 24 tháng 5 năm 2012.
  8. ^ Salter, Chuck (ngày 1 tháng 7 năm 2007). “THE KNIGHTS' TALE”. The Fast Company. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014. 
  9. ^ “Laika, Focus Teaming on Animated 'Kubo and the Two Strings'. 
  10. ^ “Nike Co-Founder Phil Knight to Step Down as Chairman”. 
  11. ^ Giardina, Carolyn (ngày 8 tháng 2 năm 2013). 'ParaNorman's' Travis Knight: The Nike Scion Behind the Oscar-Nominated Film”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014. 
  12. ^ “The Transformers Bumblebee Spinoff Has Found Its Director”. Ngày 3 tháng 3 năm 2017. 
  13. ^ “Travis Knight – Awards”. IMDb. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2016. 
  14. ^ Hipes, Patrick (ngày 24 tháng 1 năm 2017). “Oscar Nominations: ‘La La Land’ Ties Record With 14 Noms; ‘Arrival’ & ‘Moonlight’ Snag 8 Apiece”. Deadline. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  15. ^ “‘Zootopia’ Tops Annie Awards Nominations, ‘Kubo and the Two Strings’ in Close Second”. 
  16. ^ “BAFTA Awards: 'La La Land' Leads Nominations”. 
  17. ^ “The 2016 Chicago Film Critics Association Award Nominees”. Chicago Film Critics Association. Ngày 11 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016. 
  18. ^ “2017 PGA Film Nominees Include 'Deadpool,' 'Moonlight,' 'La La Land'; 'Westworld,' 'Stranger Things,' 'Atlanta' Among TV”. 
  19. ^ “‘Jungle Book,’ ‘Game of Thrones’ Dominate Visual Effects Society Awards”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]