Triệu Hoằng Ân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tống Tuyên Tổ
宋宣祖
Zhaohongyin.jpg
Bức chân dung của Chiêu Vũ đế được lưu giữ ở Bảo tàng Cung điện Quốc gia
Thông tin chung
Phối ngẫu Chiêu Hiến thái hậu
Hậu duệ xem văn bản
Thụy hiệu Chiêu Vũ Hoàng Đế
(宣祖昭武皇帝)
Miếu hiệu Tuyên Tổ (宣祖)
Thân phụ Triệu Kính
Thân mẫu Lưu thị
Sinh 899
Mất 956
An táng Tống lăng, Củng Nghĩa

Triệu Hoằng Ân (赵弘殷; 899 - 956), người Trác Quận (nay là Trác Châu, địa cấp thị Bảo Định, tỉnh Hà Bắc), sau chuyển đến Lạc Dương. Hoằng Ân là cha đẻ của 2 vị vua thời kỳ đầu nhà Tống: Tống Thái TổTống Thái Tông, đồng thời là tổ tiên của tất cả các hoàng đế nhà Tống.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Hoằng Ân vốn là một tướng quân của lãnh chúa Vương Dung thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc. Ông có biệt tài là cưỡi ngựa bắn cung. Theo lệnh của Vương Dung, ông đã dẫn hơn 500 kỵ binh để hỗ trợ cho đồng minh của nước Triệu là Hậu Đường Trang Tông chống lại nhà Hậu Lương. Ông được giao lại toàn bộ số quân đội sau sự sụp đổ của nước Triệu năm 921.

Mối lương duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm trên đường đi công vụ cho Vương Dung, đúng lúc đi ngang qua Định Châu thì trời đổ bão tuyết, Hoằng Ân tướng quân phải nấp dưới cổng của Đỗ gia trang đề tránh bão. Chủ nhân của Đỗ gia là Đỗ Sảng (杜爽) thấy vậy bèn mở cửa mời vào, khoản đãi thịnh soạn cho vị tướng gia này, đồng thời mời ông lưu lại vài hôm chờ hết bão. Kể từ đó, Hoằng Ân thường xuyên liên lạc với Đỗ gia trang. Đỗ Sảng dần có thiện cảm với Hoằng Ân và đã gả con gái của ông cho vị tướng quân này. Người con gái đó sau này là Chiêu Hiến thái hậu Đỗ thị (昭宪太后杜氏), là mẹ của Tống Thái TổTống Thái Tông.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi qua đời, Tống Thái Tổ truy tôn ông là Chiêu Vũ Hoàng đế (昭武皇帝), hiệu là Tuyên Tổ (宣祖), cho táng tại Tống lăng, Củng Nghĩa. Thuỵ hiệu đầy đủ của ông là Tuyên Tổ Chiêu Vũ Hoàng đế (宣祖昭武皇帝). Vợ ông là Chiêu Hiến Thái hậu Đỗ thị cũng được táng tại đó.

Gia thất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Triệu Kính (趙敬)
  • Thân mẫu: Lưu thị (劉氏)

Thê tử[sửa | sửa mã nguồn]

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Triệu Khuông Tế (趙匡濟), chết yểu, tặng Ung vương (邕王)
  2. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn (趙匡胤)
  3. Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa (趙匡乂)
  4. Triệu Khuông Mỹ (趙匡美; 947 - 984), sau đổi tên thành Quang Mỹ rồi Đình Mỹ, thuỵ là Phù Điệu vương (涪悼王)[1]
  5. Triệu Khuông Tán (趙匡贊), chết yểu, tặng Kì vương (岐王)
  6. Yên Quốc Trưởng công chúa (燕國長公主; ? - 973), hạ giá lấy Mễ Phúc Đức (米福德), sau tái giá Cao Hoài Đức (高懷德). Thời Tống Huy Tông, cải tặng Cung Ý đại trưởng đế cơ (恭懿大长帝姬)
  7. Trần Quốc Trưởng công chúa (陳國長公主), mất sớm. Thời Tống Huy Tông, cải tặng Cung Hiến đại trưởng đế cơ (恭献大长帝姬)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sau khi Thái Tổ lên ngôi, để tránh kỵ huý nên đã đổi chữ Khuông trong tên của các anh em mình thành Nghĩa