Warda Al-Jazairia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Warda Al-Jazairia
وردة الجزائرية
Warda Al Jazairia.jpg
Warda Al-Jazairia, 1977
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhWarda Fatouki[1]
وردة فتوكي
Sinhngày 22 tháng 7 năm 1939
Puteaux, France
Mất17 tháng 5 năm 2012(2012-05-17) (72 tuổi)
Cairo, Egypt
Thể loạiÂm nhạc Ai Cập, Nhạc pop Ả Rập
Nghề nghiệpSinger
Năm hoạt động1951–1962; 1972–2012
Hãng đĩaEMI Arabia
Virgin/EMI Records

Warda Al-Jazairia (tiếng Ả Rập: وردة الجزائرية‎  22 tháng 7 năm 1939 – 17 tháng 5 năm 2012) là một ca sĩ người Algérie nổi tiếng với các bài hát và âm nhạc Ả Rập Ai Cập. Tên bà theo nghĩa đen có nghĩa là Warda người Algérie, nhưng đôi khi bà ấy được gọi là Warda  (Ả Rập Ai Cập: [ˈwæɾdæ]) hay là "Hoa hồng Algérie" trong thế giới Ả Rập. 

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Warda Fatouki sinh năm 1939 tại Puteaux, Pháp, mẹ bà là một người Liban còn cha bà là một người Algérie. Bà bắt đầu hát ở tuổi mười một năm 1951. Bà đã trở nên nhanh chóng nổi tiếng vì những ca khúc yêu nước bằng tiếng Ả Rập. Năm 1972, Tổng thống Algérie Houari Boumediène mời bà hát trong ngày độc lập của Algérie, và bà biểu diễn cùng với một dàn nhạc Ai Cập.[cần dẫn nguồn]

Sau đó, bà chuyển đến Ai Cập, nơi bà nổi tiếng và kết hôn với nhà soạn nhạc nổi tiếng Ai Cập Baligh Hamdi. Bà đã biểu diễn nhiều bài hát của mình, cũng như những bài hát của các nhà soạn nhạc Ai Cập khác, từ đó bà nhanh chóng nổi tiếng và phát hành nhiều album mỗi năm. Ngoài ra, bà đóng vai chính trong một vài bộ phim Ai Cập, với sự tham gia của các ngôi sao điện ảnh lớn như Roushdy Abaza. Bà được cấp quốc tịch Ai Cập và hát những bài hát dân tộc nổi tiếng cho đất nước như Helwa Belady El Samra..[cần dẫn nguồn]

Bài hát Ai Cập "My Great Homeland" ("Al Home Al Akbar"), được thực hiện bởi các ngôi sao hàng đầu trong ngành công nghiệp âm nhạc Ai Cập vào thời điểm đó bao gồm Abdel Halim Hafez, Shadia, Sabah, Najat Al Saghira [2] và Faiza Kamel. Bài hát tố cáo chủ nghĩa thực dân và kêu gọi một quốc gia Ả Rập thống nhất chống lại ngoại xâm (xem).

Mất[sửa | sửa mã nguồn]

Warda qua đời vào ngày 17 tháng 5 năm 2012 tại Cairo, sau một cơn ngừng tim. Bà đã 72 tuổi.[3]

Vào ngày 19 tháng 5, thi thể Warda đã trở về Algérie, quê hương của bà, tang lễ Warda được tổ chức theo cấp nhà nước và được chôn cất tại Nghĩa trang El Alia của Algiers, nơi dành riêng cho các anh hùng dân tộc.[4][5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Algerian Singer and Icon Warda Al-Jazairia has Died at Age 73”. Ngày 17 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  2. ^ "Who is Najat Al Saghira?", najatalsaghira.wordpress.com; accessed ngày 28 tháng 8 năm 2015.
  3. ^ “Veteran Algerian singer Warda dies in Cairo at the age of 72”. alarabiya. Ngày 17 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2012. 
  4. ^ “L'Algérie dit adieu à Warda sa diva enterrée comme une figure de l'Etat”. RFI. 20 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  5. ^ “Algeria tribute to Arab singing legend Warda”. AFP. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]