Yamada Ryosuke

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yamada Ryosuke
山田 涼介
Sinh 9 tháng 5, 1993 (22 tuổi)
Nghề nghiệp Ca sĩ, Diễn viên, Tarento
Thể loại Nhạc pop Nhật Bản
Nhạc cụ Saxophone
Năm hoạt động từ 12 tháng 8, 2004 đến nay
Hãng đĩa Johnny & Associates
Hợp tác với Hey! Say! JUMP, Hey! Say! 7, NYC

Yamada Ryosuke (山田 涼介, やまだ りょうすけ) (sinh ngày 9 tháng 5 năm 1993) là một diễn viên, ca sĩ Nhật Bản, thành viên nhóm nhạc Hey! Say! JUMP.[1] Yamada thuộc quản lý của công ty Johnny & Associates.

Sau vai diễn thành công trong bộ phim Tantei Gakuen Q, Yamada thu hút được sự chú ý lớn và bắt đầu trở thành thần tượng tuổi trẻ vào năm 2007. Cùng năm đó, Yamada tham gia vào nhóm nhạc Hey! Say! JUMP và tung ra đĩa nhạc solo đầu tiên của mình năm 2013 - Mystery Virgin với doanh thu đạt mức kỉ lục, trở thành nghệ sĩ tuổi teen đầu tiên trong hơn 3 thập kỷ có đĩa đơn ra mắt đứng hạng nhất trong bảng xếp hạng của Oricon cũng như trở thành một trong 2 người duy nhất trong lịch sử ngành giải trí Nhật Bản đạt được doanh số kỉ lục này trong tuần đầu tiên phát hành đĩa.[2]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yamada Ryosuke sinh ngày 9 tháng 5 năm 1993 tại Kiryu và lớn lên tại Tokyo, Nhật Bản. Anh có một người chị là Yamada Chihiro làm người mẫu, và một em gái tên là Yamada Misaki.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2004-2005: Bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Yamada tham gia vào công ty Johnny and Associates năm 10 tuổi. Mẹ Yamada là người hâm mộ nhóm KinKi Kids (Johnny & Associates), bà đã gửi đơn đăng kí tham gia cuộc thi tuyển thành viên thay cho Yamada. Cuộc thi được tổ chức trong suốt mùa hè năm 2004 và được chiếu trên chương trình Ya-Ya-yah.

Yamada xuất hiện lần đầu tiên trên TV vào tháng 8 năm này.

Anh bắt đầu sự nghiệp làm vũ công dự bị cho [3], NEWS (JE),[4],[5] và xuất hiện thường xuyên trên The Shounen Club từ mùa thu năm 2004.

Trong 2 năm đầu, Yamada phải chiến đấu để giành được chỗ đứng giữa rất nhiều những ứng viên khác. Anh thường bị xếp đứng ở hàng sau, với hơn 50 người đằng trước. Năm 2005, những ứng viên cùng tham gia cuộc thi thử giọng với anh đã có được những thành công của riêng mình, đứng ở hàng trước và được chọn làm thành viên nhóm J.J.Express (một nhóm nhạc gồm 9 người). Yamada tâm sự rằng anh đã sụp đổ khi biết rằng mình không được chọn và đã nghĩ đến việc rời khỏi công ty. Với sự động viên của mẹ và những ứng viên khác, anh quyết định ở lại.

Mùa thu năm 2005, Yamada được chọn làm một trong số những vũ công dự bị chính cho một nhóm nhạc tạm thời gồm 2 thành viên Shuji và Akira. Đây là lần đầu tiên anh nhảy ở trên hàng trước, một bước ngoặt trong sự nghiệp của anh. Anh tiếp tục làm vũ công chính trong 2 năm tiếp theo, cho đến khi debut vào năm 2007.

2006-2007: Tantei Gakuen Q và Hey! Say! JUMP[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp nối thành công trong lĩnh vực nhảy, Yamada bắt đầu sự nghiệp diễn xuất. Năm 2006, anh ra mắt lần đầu tiên trong tập phim Tantei Gakuen Q SP với vai Ryuu Amakusa.

Tháng 4 năm 2007, anh được chọn làm thành viên của nhóm nhạc tạm thời Hey! Say! 7 cùng với Arioka DaikiTakaki YuyaNakajima Yuto and Chinen Yuuri. Nhóm phát hành CD đầu tay ngày 1 tháng 8 cùng năm mang tên "Hey! Say!". Nhóm nhạc này hoạt động trong 6 tháng, đến tháng 9 năm 2007.

Từ tháng 7 năm 2007, loạt phim Tantei Gakuen Q được công chiếu và thành công lớn, thu hút được sự chú ý của những cô gái, khiến cho Yamada nhanh chóng trở thành một thần tượng tuổi trẻ sau đó.

Tháng 9 năm 2007, Hey! Say! 7 tan rã. Johnny and Associates thông báo về nhóm nhạc mới của họ, Hey! Say! JUMP (Johnny's Ultra Music Power) với 10 thành viên, chia làm 2 nhóm nhỏ: Hey! Say! BEST (Boys Excellent Select Team) 5 thành viên và Hey! Say! 7 5 thành viên do Yamada làm trưởng nhóm.

Hey! Say! JUMP debut vào 14 tháng 11 năm 2007 với single "Ultra Music Pơwer", bài hát được sử dụng làm nhạc nền cho Thế vận hội Bóng chuyền năm 2007 ở Nhật Bản.

2008-2009: Đóng phim và nhóm nhạc NYC boys[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Yamada đã tiến xa trong sự nghiệp diễn xuất của mình. Từ tháng 1 đến tháng 3, anh tham gia bộ phim One-Pound Gospel cùng với đàn anh Kazuya Kamenashi (trưởng nhóm KAT-TUN).

Ngày 12 tháng 4, anh thủ vai chính trong drama Sensei wa Erai. Ngày 14 tháng 6, anh đóng vai chính trong Furuhata Chuugakusei, phần tiếp theo của Furuhata Ninzaburo, một series phim Nhật rất nổi tiếng quay năm 1994. Tác giả Koki Mitani đã lên kế hoạch cho phần tiếp theo này trong gần 10 năm nhưng không thể tìm được một diễn viên trẻ nào có thể diễn vai Ninzaburo Furuhata. Mitani đã nhắm Yamada trong One-Pound Gospel và liên lạc với Johnny để đề nghị Yamada diễn vai này.

Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2008, Yamada quay bộ phim Scrap Teacher: Kyoushi Saitei, thủ vai chính Koichi Takasugi cùng với 3 thành viên Hey! Say! JUMP: Chinen Yuuri, Nakajima YutoArioka Daiki.

Tháng 6 năm 2009, Yamada trở thành trưởng nhóm nhạc NYC boys, Ngày 31 tháng 12 năm 2009, nhóm nhạc xuất hiện trên Kohaku Uta Gassen. Mùa hè năm 2009, Yamada tiếp tục sự nghiệp diễn xuất trong phim Niini no koto wo Wasurenaide.

2010-2012: NYC, The Smurfs, Risou no Musuko (Perfect son) và Johnnys' World[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 10, Yamada nhận vai chính trong series phim Hidarime Tantei Eye. Single thứ 5 của Hey! Say! JUMP, "Hitomi no Screen" được dùng làm nhạc chủ đề cho bộ phim này.

Tháng 3 năm 2010, Yamada cùng với 2 thành viên của NYC boys được tách ra và lập thành một nhóm mới, NYC. Nhóm nhạc này tung ra single đầu tiên "Yuuki 100%" ngày 7 tháng 4 năm 2010.[6] Từ đây, Yamada trở thành trưởng nhóm của đồng thời 1 nhóm nhạc, Hey! Say! JUMP và NYC. Anh là một trong 2 người duy nhất từ trước đến nay cùng lúc tham gia 2 nhóm nhạc và đồng thời làm trưởng nhóm.

Tháng 9 năm 2011, anh lồng tiếng cho Clumsy trong phim The Smurfs phiên bản Nhật. Đĩa đơn thứ 8 của Hey! Say! JUMP được dùng làm nhạc nền của bộ phim.

Năm 2012, sau 2 năm tạm ngừng việc đóng phim, Yamada nhận vai chính trong phim Yamada Akiyoshi Mônogatari.

Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2012, anh đóng vai chính trong series phim Perfect son - Risou no Musuko. Ca khúc chủ đề của phim là "SUPER DELICATE" - single thứ 9 của Hey! Say! JUMP.

Từ tháng 11/2012 đến 1/2013, Yamada giữ vai trò chỉ đạo trong show âm nhạc Johnnys' World. Trong suốt 3 tháng, tổng cộng 103 show đã được biểu diễn tại nhà hát Imperial Garden. CD solo đầu tiên của Yamada được thông báo vào tuần đầu của show này, Thông tin này đã khiến cho rất nhiều fan shock và lo lắng về việc Yamada sẽ rời khỏi Hey! Say! JUMP và NYC. Anh đã bác bỏ tin đồn này và tuyên bố sẽ vẫn là thành viên của cả 2 nhóm nhạc, đồng thời cố gắng trong sự nghiệp solo của mình.

2013-nay: Mystery Virgin và Kindaichi Case Files[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9-1-2013, Yamada tung ra CD solo đầu tiên của mình, "Mystery Virgin". Khi đó anh mới gần 20 tuổi, còn rất trẻ, nhưng single này đã đạt được vị trí đứng đầu trong tuần đầu tiên phát hành theo bảng xếp hạng của Oricon, khiến Yamada trở thành nghệ sĩ trẻ (chưa đến 20 tuổi) đầu tiên trong vòng 32 năm 1 tháng có được single ra mắt xếp hạng nhất cũng như 1 trong 2 ca sĩ duy nhất trong lịch sử có doanh số single ra mắt cao kỉ lục như vậy (87 555 đĩa trong ngày đầu và 189 000 đĩa trong tuần đầu). Anh cũng là nghệ sĩ nam duy nhất sinh thời Heisei có single xếp hạng nhất. Ở Nhật Bản, mặc dù có rất nhiều bạn nhạc trẻ thường đứng hạng nhất nhưng lại luôn thiếu nhưng nam ca sĩ trẻ solo trong vòng hơn 2 thập kỉ qua. Điều này càng khiến cho thành công của Yamada trở nên ấn tượng.

Ngày 12/1/2013, Yamada quay phim đặc biệt cho bộ truyện nổi tiếng Thám tử Kindaichi,  Kinda'ichi Shōnen no Jikenbo, vụ án Kindaichi Shonen no Jikenbo Hong Kong Kowloon Zaihou Satsujin Jiken (Án mạng Kho báu Cửu Long).[7][8] Anh thủ vai nhân vật chính - thám tử học sinh Hajime Kindaichi. Bộ phim được quay nhân dịp kỉ niệm 60 năm Công ty Truyền thông Nhật Bản NTV. Bài hát solo của Yamada - Mystery Virgin là ca khúc chủ đề của bộ phim.[9]

Tác giả của series KindaichiTantei Gakuen Q - Shin Kibayashi sau ấy đã khiến tất cả mọi người vô cùng ngạc nhiên khi tiết lộ rằng ông đã có dự định xây dựng series Kindaichi mới do Yamada Ryosuke thủ vai Hajime Kindaichi từ 5 năm nay, sau khi ông gặp Yamada trong khi quay Tantei Gakuen Q vào năm 2006-2007. Kibayashi khi ấy đã hỏi Yamada liệu có thể diễn vai Kindaichi trong tương lai được không vì lúc đó Yamada mới chỉ 14 tuổi, quá nhỏ để có thể diễn vai một học sinh trung học.

Đầu năm 2014, Yamada bắt tay vào quay phim mới trong series Kindaichi - Kindaichi Shonen no Jiken bo Gokumonjuku Satsujin Jiken (The Prison School Murder Case)

Tiếp sau 2 phim này, Yamada lại một lần nữa vào vai cậu thám tử trung học Kindaichi trong series mới Kindaichi Shonen no Jikenbo N (neo) khởi chiếu trên NTV vào 19-7-2014. Ca khúc chủ đề của phim là single mới của Hey! Say! JUMP - "Weekender".[10]

Sản phẩm phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Album & Single[sửa | sửa mã nguồn]

Với những bài hát cùng với nhóm, xin vào NYC, Hey! Say! JUMP để biết rõ hơn.

Solo[sửa | sửa mã nguồn]

CD Mystery Virgin (ミステリーヴァージン) [9/1/2013][11]

  • Asia no Yoru
  • Moonlight
  • Gin no Sekai ni Negai wo Komete
  • Ai no Katamari

Video âm nhạc (MV)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2005 Seishun Amigo Shuuji to Akira
2006 Venus Tackey & Tsubasa
Fever to Future Kitty GYM
2013 Mystery Virgin Ryosuke Yamada
Moon light Ryosuke Yamada

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album/Bài hát Ca sĩ Vai trò
2010 JUMP NO.1 / "Shinku" Hey! Say! JUMP Viết lời
2012 JUMP WORLD / "Hana Egao" Hey! Say! 7 Viết lời
2013 "Gin no Sekai ni Negai wo Komete" Ryosuke Yamada Viết lời
2014 Smart / "Candle" Hey! Say! JUMP Viết lời

DVD[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày phát hành Tựa đề
2006 15/2 Endless Shock
28/6 Dream Boys
30/8 Takizawa Hideaki Arigato 2005 Sayonara
2007 18/7 Takizawa Enbujo
2008 23/1 One! The History of Tackey
3/9 One-Pound Gospel
3/12 Furuhata Chugakusei: Shogai Saisho no Jiken
2009 4/3 Tantei Gakuen Q
22/4 Scrap Teacher: Kyoshi Saisei
28/11 Niini no koto Wasurenaide
2010 17/3 Hidarime Tantei Eye SP
26/3 Hidarime Tantei Eye
2012 3/2 The Smurfs
18/7 Risou no Musuko
2013 13/3 Kindaichi Case Files

TV[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Hãng Vai diễn Ghi chú
2006 Tantei Gakuen Q SP NTV Ryu Amakusa Vai phụ; phim 2 tiếng
2007 Tantei Gakuen Q NTV Ryu Amakusa Vai chính; phim nhiều tập
2008 One-Pound Gospel NTV Katsumi Mukoda Vai phụ; phim nhiều tập
Sensei wa Erai! NTV Hayato Gunsho Vai chính; drama 2 tiếng
Furuhata Chugakusei Fuji TV Ninzaburo Furuhata Vai chính; drama 2 tiếng
Scrap Teacher: Kyoushi Saisei NTV Koichi Takasugi Vai chính; phim nhiều tập
2009 Niini no koto Wasurenaide NTV Yuji Kawai Vai phụ; drama 2 tiếng
Hidarime Tantei EYE SP NTV Ainosuke Tanaka Vai chính; drama 2 tiếng
2010 Hidarime Tantei EYE NTV Ainosuke Tanaka Vai chính; phim nhiều tập
2012 Yamada Akiyoshi Monogatari TBS Akiyoshi Yamada Vai chính; drama 2 tiếng
Risou no Musuko NTV Daichi Suzuki Vai chính; phim nhiều tập
2013 Kindaichi Case Files NTV Hajime Kindaichi Vai chính; drama 2 tiếng
2014 Kindaichi Case Files NTV Hajime Kindaichi Vai chính; drama 2 tiếng
Kindaichi Case Files Neo NTV Hajime Kindaichi Vai chính; phim nhiều tập
2013 "Kyou no hi wa sayonara" NTV Harada Nobuo Vai phụ; drama 2 tiếng
2014 "Jigoku Sensei Nube" NTV Zekki Phim dài tập (ep 9)

Film[sửa | sửa mã nguồn]

Show truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm

Tên phim

Vai diễn

Ghi chú

2011 The Smurfs Clumsy (lồng tiếng) Phiên bản Nhật
2014 Ra.One Prateek/Lucifer (lồng tiếng) Phiên bản Nhật
2015 Grasshopper Cicada/Semi Vai chính
2015 Ansatsu Kyoushitsu Nagisa Shiota Vai chính
Năm Tên show Hãng
2004 - 2007 Ya-Ya-yah TV Tokyo
2004 - nay The Shounen Club NHK
2006 - 2007 You Tachi! NTV
2007 - 2008 Heisei Families NTV
2008 - 2009 Show wa Heisei NTV
2009 - nay School Kakumei! NTV
2011 - nay Yan Yan JUMP TV Tokyo

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Sản phẩm

Năm

Cùng với

Lotte Gyu Gyutto Icecream 2011
Ajinomoto COOKDO Koumi paste 2012
Lotte Plus X Fruitio 2010 Hey! Say! 7
Lotte Fruitio 2009 Hey! Say! 7
Bourbon- YOROfuru Hey! Say! 7
Ghana Chocolate Hey! Say! 7
Frugela Hey! Say! 7
Wii Hey! Say! JUMP
ジョイポリス joy police SEGA セガ NYC

Concert[sửa | sửa mã nguồn]

  • SUMMARY 2011 (7/8/ 2011 - 25/9/2011)
  • Hey! Say! JUMP & Yuuki 100% Concert với Nakayama Yuma (10/4/2011 - 29/5/2011)
  • Hey! Say! JUMP với NYC Spring Concert tour 2011 (Concert Cancelled)
  • Hey! Say! JUMP Winter Concert 2010-2011 (12/2010 và 1/2011)
  • SUMMARY 2010 (mùa hè 2010)
  • Hey! Say! 2010 TEN JUMP Concert (4-5/2010)
  • Hey! Say! JUMP Winter Tour (09-10)
  • Hey! Say! JUMP Tengoku Concert (mùa hè 2009)
  • Hey! Say! Jump-ing Tour '08-'09
  • SUMMARY (mùa hè 2008)
  • Hey! Say! JUMP Tokyo Dome Debut Concert (22/122007)
  • Johnny's Jr. Hey Say 07 in YOKOHAMA ARENA (23-24/9/2007)
  • Johnny's Jr. no Daiboken!@Meridian (15–24/8/2007)
  • Tour 2007 cartoon KAT-TUN II You (3/4 - 17/6/2007)
  • News Concert Tour 2007 (17/2 - 15/7 2007)
  • 2007 Kingashinnen Akemashite omedetou Johnny's Jr. Daishugou (2, 3, 4, 6, 7/1/2007)
  • Tackey&Tsubasa Christmas concert 2006"2wo you 4our you"(17–24/12/2006)
  • Youtachi no ongaku daiundokai (30/9 và 1/11/2006)
  • Johnny's Jr. no Daiboken! (15–26/8/2006)
  • Hideaki Takizawa 2005 concert~arigatou 2005nen sayonara~ (23–25/12/2005)
  • Looking KAT-TUN 2005ing (26–28/8/2005)
  • Johnnys Theater SUMMARY Digest (29/7 - 14/9/2005)
  • Looking 05 Kat-Tun (29/5 - 26/62005)
  • Ya-Ya-yah Haruyasumi Yokohama Arena Concert (26/3/2005)
  • Spring 05 Looking Kat-Tun (25 - 27/3/2005)
  • KAT-TUN Live Kaizoku (28/12/2004 - 10/1/2005)
  • Johnnys Theater "Summary"of Johnnys World (8–29/8/2004)

Tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian Tựa đề Tạp chí
Tháng 4 2008 - nay Yamadas Duet
Tháng 4 2013 - nay Shinku no Oto -Think Note- Myojo
Tháng 1 2013 - nay Hey! Say! 7 Seventeen

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Johnny's net”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ “Yamada Ryosuke's solo single ra mắt tops the Oricon weekly single chart tokyohive.com”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ “Johnny's net”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  4. ^ “Johnny's net”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  5. ^ “Johnny's net”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  6. ^ “限定ユニット「NYC」が活動継続の新曲”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  7. ^ “「金田一少年」4代目に山田涼介/芸能/デイリースポーツ online”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  8. ^ “Yamada Ryosuke to be 4th Generation Kindaichi Hajime in Latest Drama SP”. JpopAsia. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  9. ^ “Yamada Ryosuke's 'Kindaichi Shonen no Jikenbo' to get a serial drama tokyohive.com”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  10. ^ “イントロダクション|金田一少年の事件簿N(neo)|日本テレビ”. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ “Mystery Virgin [Regular Edition] Ryosuke Yamada CD Maxi”. CDJapan. Truy cập 17 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]