Đại lộ Võ Văn Kiệt - Mai Chí Thọ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đại lộ Võ Văn Kiệt)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại lộ
Võ Văn Kiệt - Mai Chí Thọ

Đại lộ Võ Văn Kiệt, đoạn qua Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
Thông tin đường
Chiều dài 21.89 km (13,60 mi)
Tồn tại từ 2 tháng 9 năm 2009 – nay
Các điểm giao cắt quan trọng
Đầu Tây QL 1A, VNM.svg tại nút giao Tân Kiên, Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
  Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh–Long Thành–Dầu Giây tại Nút giao An Phú Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh
Đầu Đông QL 52, VNM.svg tại nút giao Cát Lái, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh

Đại lộ Võ Văn Kiệt - Mai Chí Thọ[1] hay còn được biết nhiều hơn bởi tên gọi là Đại lộ Đông - Tây, thành phố Hồ Chí Minh là một tuyến đường đi qua trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, đang được khôi phục, nâng cấp từ tuyến đường hiện hữu và xây dựng thêm tuyến đường mới để tạo thành một trục đường mới ra vào phía Nam theo hướng Đông - Tây, nhằm giảm ách tắc giao thông cho cầu Sài Gòn và các trục chính trong thành phố. Tuyến đường này đáp ứng yêu cầu lưu thông cho các cảng của thành phố đi các nơi theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, tạo trục giao thông sang Thủ Thiêm, và cải thiên môi trường ven kênh mà nó đi qua, tăng vẻ mỹ quan cho thành phố.[2]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Đại lộ chạy dọc theo kênh từ quốc lộ 1A huyện Bình Chánh đến ngã ba đường Yersin - Chương Dương gần cầu Calmette, quận 1; vượt sông Sài Gòn bằng hầm Thủ Thiêm và nối với xa lộ Hà Nội tại Ngã ba Cát Lái, quận 2. Chiều dài toàn tuyến là 21,89 km, đi qua địa bàn các quận 1, 2, 4, 5, 6, 8, Bình Tân và huyện Bình Chánh, tạo thành một tuyến trục giao thông Đông - Tây, và kết nối hai đầu Đông Bắc - Tây Nam thành phố. Đại lộ Đông – Tây tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện giao thông ra vào cảng Sài Gòn và từ đây đi các tỉnh miền Đôngmiền Tây không phải đi vào trung tâm thành phố. Đây sẽ là con đường huyết mạch liên kết chặt chẽ các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam[2].

Các công trình chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hầm dìm Thủ Thiêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hầm dìm Thủ Thiêm

Hầm Thủ Thiêm được thực hiện theo phương án hầm dìm. Phương pháp này có nhiều ưu thế hơn do có thể tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng và thời gian thi công. Cùng lúc với việc đào hầm, các cấu kiện cơ bản như khung hầm sẽ được đúc sẵn, sau đó đưa đến vị trí đã đào đủ độ sâu để đánh chìm xuống. Trường hợp làm hầm đào thì phải đổ bê-tông dưới nước, mất thời gian hơn rất nhiều. Một ưu điểm khác là chiều dài hầm dìm chỉ bằng 1/3 so với hầm đào; khoảng cách từ đỉnh hầm đến đáy sông chỉ 3-4m trong khi với hầm đào khoảng cách này sâu hơn gấp nhiều lần.[2]

Hầm dìm dài khoảng 1,49 km, rộng 33m (tương đương đường Nguyễn Huệ tại trung tâm quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh), cao 9m, có sáu làn xe, mỗi bên ba làn cho cả ôtô và xe máy, chưa kể hai làn thoát hiểm. Phần thân hầm gồm 4 đốt mỗi đốt dài 93 m, và nặng 27.000 tấn, bề dày hơn 1,2 m được cấu tạo bởi bê tông cốt thép chống thấm. Tốc độ thiết kế đạt 60 km/giờ.[3][4] Công trình có tuổi thọ theo thiết kế là 100 năm, tuy nhiên, không ít ý kiến lo ngại về độ bền của hầm trong điều kiện địa chất yếu và có nhiều phức tạp như ở TP HCM.[5] Hiện nay, trên thế giới có khoảng 105 hầm, trong đó hơn 30 là hầm dìm, phổ biến ở Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Australia, Mỹ, Anh... Riêng khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước đầu tiên xây dựng hầm loại này.

Theo thiết kế, vấn đề an toàn được bảo đảm bằng các hệ thống kỹ thuật bên trong hầm như hệ thống thông gió, bơm nước, cấp nước, hút ẩm, chiếu sáng, thông tin liên lạc báo động, chống cháy nổ và những bộ phận tự động đo độ ồn, độ ẩm, khói bụi. Trường hợp tiếng ồn, độ ẩm quá mức cho phép, các bộ phận này sẽ báo động và tự điều chỉnh bằng cách hút ẩm ra bên ngoài hoặc báo lại trung tâm điều khiển ở cửa hầm, dự kiến xây dựng ở phía Thủ Thiêm. Trung tâm điều khiển được trang bị hệ thống camera theo dõi lưu thông và điều khiển tất cả các hệ thống bên trong hầm để xử lý kịp thời các tình huống. Mặt khác, hai bên hông hầm còn có hai đường thoát hiểm. Khi có sự cố, các cửa vào đường thoát hiểm sẽ mở ra cho các phương tiện tiếp tục lưu thông hoặc quay ngược trở lại. Một hệ thống cung cấp điện cũng được dự phòng cho trường hợp cúp điện.

Các hạng mục khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thông số cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiều dài toàn tuyến: 21,89 km
  • Chiều dài tính riêng Hầm Thủ Thiêm: 1,49 km
  • Chiều rộng mặt đường: 70m (từ nút giao Quốc lộ 1A đến cầu Lò Gốm), 50m (từ cầu Lò Gốm đến trước cửa Hầm Thủ Thiêm ở Quận 1) và 140m (tuyến bên phía Quận 2)
  • Thông số làn xe: 8-10 làn xe (tuyến bờ Tây sông Sài Gòn), 14 làn xe (phía Quận 2)
  • Tổng mức đầu tư: hơn 13.400 tỷ đồng VNĐ (tính đến năm 2010, do phải tăng vốn hơn 3.600 tỷ đồng VNĐ để mở rộng thêm tại Quận 2)
  • Dấu mốc: 31/1/2005 khởi công, ngày 2/9/2009 thông xe giai đoạn 1 (tuyến bờ Tây sông Sài Gòn), thông xe toàn tuyến vào ngày 20/11/2011, trùng ngày thông xe Hầm Thủ Thiêm

Quá trình xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Lập dự án[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu khả thi của dự án được tiến hành từ năm 1997.[7]. Bản kế hoạch dự án được thành lập từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1999 do SAPROF (Special Assistance for Project Formation) tư vấn.[8] Dự án Đại lộ đông tây có tổng mức đầu tư là 9.864 tỷ đồng. Trong đó, vốn vay nước ngoài là 6.394 tỷ đồng từ Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản - JBIC và vốn đối ứng ngân sách nhà nước 3.470 tỷ đồng.[cần dẫn nguồn] Tháng 5 năm 2010, dự án phải tăng thêm vốn khoảng 3.600 tỷ đồng do thiết kế mở rộng thêm tại tuyến ở Quận 2 qua đó tổng mức đầu tư lên đến hơn 13.400 tỷ đồng [9]

Giải phóng mặt bằng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đền bù giải tỏa mặt bằng trong 4 năm, gồm 6.754 hộ dân, 368 cơ quan, trên tổng diện tích 201,63ha.[2]

Ngày 2/9/2009, đã thông xe đoạn đường 13,4 km từ đường Bến Chương Dương (gần bờ sông Sài Gòn, Q.1) đến quốc lộ 1A (huyện Bình Chánh).[cần dẫn nguồn]

Chính thức có tên mới[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kỳ họp Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2010, các đại biểu đã biểu quyết thông qua tờ trình đề xuất lấy tên cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt cho Đại lộ Đông Tây[10] Ngày 29 tháng 4 năm 2011, Đại lộ chính thức gắn tên biển Đại lộ Võ Văn Kiệt. Đoạn tuộc địa bàn quận 2 được gọi là Đại lộ Mai Chí Thọ.

Lợi ích[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Lộ Đông - Tây[11] được coi là con đường chiến lược của Thành phố Hồ Chí Minh và là điểm nhấn quan trọng nhất của cửa ngõ đi vào Thủ Thiêm, góp phần cho việc giãn dân cư đô thị về phía bờ Đông sông Sài Gòn và phía Nam thành phố, đặc biệt đối với trung tâm thương mại Thủ Thiêm thuộc quận 2 và giúp nơi này trở thành trung tâm của thành phố trong tương lai, khi Thành phố Hồ Chí Minh xác định sẽ phát triển về hướng đông và hướng nam. Một giá trị lớn khác của đại lộ Đông Tây, là cải tạo môi trường ven kênh, tạo vẻ mỹ quan thành phố. Khi đại lộ này hoàn thành, những nhà chòi ổ chuột của 10.000 hộ ở hai bên kênh Tàu Hủ - Bến Nghé sẽ được thay bằng những công viên cây xanh, công trình công cộng, những hộ dân phải di dời sẽ có được cuộc sống tốt hơn và môi trường sống văn minh hơn. Ngoài ra khi xây dựng Đại lộ Đông Tây, cầu Chà và cầu Chữ Y sẽ phải đập bỏ để xây dựng mới lại nhằm nâng cao độ tĩnh không của cầu để Đại lộ Đông Tây chạy ở dưới cầu, điều này sẽ giúp cho tĩnh không thông thuyền của kênh Tàu Hũ-Bến Nghé được nâng cao qua đó giúp cho việc phát triển giao thông và kinh tế đường thủy trở nên thuận lợi hơn[2]

Trong tương lai, điểm đầu của Đại lộ Đông - Tây (Huyện Bình Chánh) sẽ được kết nối với đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương và khu vực điểm cuối của Đại lộ Đông - Tây (Quận 2) sẽ được kết nối với đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, do đó sẽ giúp giao thông từ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và các tỉnh miền Trung, miền Bắc thông suốt khi đi qua khu vực này, góp phần cho việc phát triển kinh tế của TP.Hồ Chí Minh nói riêng và cả vùng Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên nói chung. Đặc biệt khi Sân bay quốc tế Long Thành xây dựng xong sẽ giúp giao thông tại Đồng bằng sông Cửu Long, TP.Hồ Chí Minh và cả vùng Đông Nam Bộ được kết nối với Sân bay quốc tế Long Thành theo tuyến đường trên

Cáo buộc tham nhũng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Huỳnh Ngọc Sĩ, giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông - Tây, đã bị tạm đình chỉ công tác[12][13][14] sau khi có các cáo buộc tham nhũng lên đến 2.5 triệu USD liên quan đến dự án này và lãnh đạo dự án Đại lộ Đông Tây Thành phố Hồ Chí Minh đã được thay thế[15]. Quá trình điều tra chỉ xác nhận ông Sỹ có nhận hối lộ 80.000[cần dẫn nguồn] và gian lận việc cho ban dự án thuê nhà riêng để hưởng chênh lệch. Ngày 25/09/2009, TAND Tp.Hồ Chí Minh kết án ông Sỹ 3 năm tù[16] vì các gian lận nói trên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]