Đồng bằng Okavango

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đồng bằng châu thổ sông Okavango
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Okavango Delta map.png
Bản đồ của đồng bằng.
Quốc gia  Botswana
Kiểu Thiên nhiên
Hạng mục vii, ix, x
Tham khảo 1432
Vùng UNESCO châu Phi
Lịch sử công nhận
Công nhận 2014 (kì thứ 38rd)
Hình ảnh vệ tinh của Okavango từ NASA.
Khu vực điển hình ở đồng bằng sông Okavango, với các con kênh, hồ, đầm lầy và đảo nổi.

Đồng bằng Okavango hay đồng cỏ Okavango là khu vực đồng bằng nội địa lớn được hình thành bởi con sông Okavango kiến tạo ở trung tâm của lưu vực lòng chảo nội lục Kalahari. Nước tại đây tự bốc hơi và thoát hơi nước chứ không chảy vào bất kỳ biển hoặc đại dương nào. Mỗi năm có khoảng 11 km3 nước lan ra trên diện tích 6.000-15.000 km². Một số vùng nước lũ chảy vào hồ Ngami.[1] Khu bảo tồn thú săn Moremi là một vườn quốc gia ở phía đông của đồng bằng. Đồng bằng sông Okavango là một trong những kỳ quan thiên nhiên của châu Phi, được chính thức tuyên bố vào ngày 11 tháng 2 năm 2013 tại Arusha, Tanzania.[2]

Khu vực đã từng là một phần của hồ Makgadikgadi, một hồ cổ xưa mà chủ yếu là trong tình trạng khô cạn vào đầu thời kỳ Holocen. Mặc dù đồng bằng sông Okavango được cho là đồng bằng nội địa lớn nhất thế giới nhưng thực tế lại không phải vậy. Ngay ở châu Phi đã có hai vùng đồng bằng có đặc điểm địa chất tương tự lớn hơn đó là Sudd trên sông NinNam Sudan, và đồng bằng nội địa sông NigerMali.[3]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đồng bằng ngập lụt[sửa | sửa mã nguồn]

Okavango được tạo thành bởi lũ lụt. Các cửa sông Okavango vào mùa hè (tháng 1-2) nhận lượng nước lớn từ các trận mưa từ cao nguyên Angola và tạo thành dòng chảy 1.200 km trong khoảng một tháng. Vùng nước ngập lụt sau đó lan rộng ra trên 250 km và 150 km diện tích vùng đồng bằng trong vòng bốn tháng tiếp theo (vào tháng 6). Nhiệt độ cao của vùng đồng bằng gây ra bốc hơi nước nhanh, dẫn đến một chu kỳ tăng và giảm mực nước thường niên. Đỉnh điểm của lũ ở Botswana là vào giữa tháng 6 và tháng 8 sau suốt thời gian khô hạn trước đó, khi đồng bằng sông mở rộng ra gấp ba lần kích thước bình thường của nó, thu hút động vật từ các vùng đất xung quanh và tạo ra một trong số những khu vực có mật độ động vật hoang dã lớn nhất ở Châu Phi.

Vùng đồng bằng rất bằng phẳng, với sự thay đổi ít hơn 2 mét trong một khu vực diện tích rộng 15.000 km².[4]

Thoát nước[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi năm có khoảng 11 km3 (11.000 tỷ lít) nước chảy vào vùng đồng bằng. Khoảng 60% sau đó sẽ bị mất đi thông qua thoát hơi nước của thực vật, 36% bằng cách bốc hơi, 2% thấm vào hệ thống tầng nước ngầm; và 2% chảy vào hồ Ngami. Điều này có nghĩa là dòng sông không thể đưa các khoáng chất vào và khiến cho khu vực ngày càng trở nên mặn, nhưng hiệu ứng này làm giảm hàm lượng muối, tích tụ xung quanh rễ cây. Độ mặn của nước thấp cũng có nghĩa là lũ lụt không làm giàu cho các vùng đồng bằng bằng các chất dinh dưỡng.[5]

Đảo muối[sửa | sửa mã nguồn]

Tích tụ của muối xung quanh rễ cây tạo thành hàng ngàn hòn đảo đốm trắng, cằn cỗi ở trung tâm của vùng đồng bằng, nó đã quá mặn để cây cối có thể hấp thụ được, ngoại trừ một số cây kháng muối như cọ. Cây và cỏ phát triển trong các cạnh của hòn đảo, mà ở đó nồng độ muối vẫn chưa trở nên quá mặn.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Cây xanh dồi dào của vùng đồng bằng sông không phải là kết quả của một khí hậu ẩm ướt; đúng hơn, nó là một ốc đảo trong một đất nước khô cằn. Lượng mưa trung bình hàng năm là 450mm (bằng khoảng một phần ba so với phần diện tích lưu vực của nó ở Angola) và hầu hết là vào giữa tháng 12 và tháng 3 bằng các trận mưa giông buổi chiều.

Tháng 12 đến tháng 2 là tháng nóng ẩm với nhiệt độ ban ngày lên tới 40 độ C, ban đêm ấm áp, và độ ẩm dao động từ 50% đến 80%. Từ tháng 3 đến tháng 5, nhiệt độ trở nên dễ chịu hơn với nhiệt độ tối đa là 30 °C vào ban ngày và mát về đêm. Nước của những cơn mưa nhanh chóng bị khô đi vào những tháng mùa đông có khí hậu lạnh và khô vào tháng 6-8 hàng năm. Nhiệt độ ban ngày tại thời điểm này của năm đều ấm nhẹ, nhưng nhiệt độ bắt đầu giảm đi sau khi mặt trời lặn. Đêm có thể lạnh đáng ngạc nhiên ở vùng đồng bằng sông, với nhiệt độ chỉ ở trên ngưỡng đóng băng.

Từ tháng 9 - 11 là giai đoạn nóng đỉnh điểm. Tháng 10 là tháng khó khăn nhất cho du khách, nhiệt độ ban ngày thường vượt ngưỡng 40 °C và khô, chỉ thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi một trận mưa đột ngột.

Động vật hoang dã[sửa | sửa mã nguồn]

Một con Linh dương đồng cỏ cái tại đồng bằng.

Vùng đồng bằng Okavango là nơi trú ẩn và trú ẩn theo mùa cho một loạt các loài động vật hoang dã, khiến nó trở thành một điểm thu hút du lịch nổi tiếng.[6]

Các loài đáng chú ý bao gồm Voi bụi rậm châu Phi, Trâu rừng châu Phi, Hà mã, Linh dương đồng cỏ, Quyến linh, Linh dương đầm lầy Trung Phi, Linh dương đầu bò, hươu cao cổ, cá sấu sông Nin, Sư tử, Báo săn, Báo hoa mai, Linh cẩu nâu, Linh cẩu đốm, Linh dương nhảy, Linh dương vằn lớn, Linh dương đen, Tê giác đen, Tê giác trắng, Ngựa vằn đồng bằng, Lợn nanh sừng châu PhiKhỉ đầu chó Chacma. Đáng chú ý nhất là loài có nguy cơ tuyệt chủng tự nhiên, Chó hoang châu Phi vẫn tồn tại trong vùng đồng bằng sông Okavango,[7] khiến nó là một trong những khu vực có mật độ động vật hoang dã lớn nhất châu Phi. Vùng đồng bằng cũng bao gồm hơn 400 loài chim, trong đó có cá Đại bàng cá châu Phi, Cú ăn cá Pel, Sếu xám hoàng gia, Sả ngực hoa cà, Cò đầu búa, Đà điểu châu PhiCò quăm trắng châu Phi.

Ước tính có 200.000 động vật có vú lớn trong và xung quanh vùng đồng bằng là cư trú theo mùa. Chúng di cư khi những cơn mưa mùa hè xuất hiện để tìm các vùng đồng cỏ mới, sau đó trở lại vùng đất này vào mùa đông. Số lượng các loài di cư lớn nhất phải kể đến linh dương đầu bò, trâu rừng châu Phi và voi.

Okavango là nhà của 71 loài cá bao gồm cá hổ châu Phi, cá rô phicá da trơn. Có khoảng 1,4 triệu con Cá trê phi tại đây. Một số loài có mặt ở đây cũng được tìm thấy ở sông Zambezi, cho thấy một liên kết trong quá khứ giữa hai hệ thống sông này.[8]

Động vật có vú lớn và có số lượng đông nhất tại đây là Linh dương đồng cỏ, với hơn 60.000 con. Chúng lớn hơn một chút lớn so với Linh dương sừng cao. Với bộ móng dài và có chất chống thấm nước trên đôi chân cho phép chúng di chuyển nhanh chóng qua các khu vực nước sâu. Thức ăn của chúng là cỏ và thực vật thủy sinh gần các khu vực có nước giống như Linh dương đầm lầy. Chỉ có con đực có sừng.

Mối đe dọa[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Namibia đã đưa ra kế hoạch xây dựng một nhà máy thủy điện trong khu vực Zambezi, mà sẽ làm thay đổi dòng chảy của sông Okavango ở một mức độ nhất định. Trong khi những người ủng hộ cho rằng hiệu quả sẽ thu được không cao, các nhà môi trường cho rằng dự án này có thể phá hủy hầu hết môi trường sinh sống của các loài động thực vật phong phú ở đồng bằng sông.[9] Các mối đe dọa khác bao gồm sự xâm lấn của con người địa phương và khai thác tài nguyên trong khu vực các đầm lầy ở cả tại Angola và Namibia.[10]

Nhà làm phim tài liệu người Nam Phi Rick Lomba đã từng đoạt giải thưởng với những thước phim của trong những năm 1980 về mối đe dọa của gia súc xâm lấn khu vực. Bộ phim tài liệu của ông có tựa đề The End of Eden đã miêu tả sinh động và chân thực bộ mặt của vùng đồng bằng, điều này đã có tiếng nói giúp duy trì tính toàn vẹn của nó trong suốt thời gian qua.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cecil Keen. 1997
  2. ^ Seven Natural Wonders of Africa
  3. ^ T.S. McCarthy. 1993. The great inland deltas of Africa, Journal of African Earth Sciences, vol. 17, no. 3, pp. 275-291
  4. ^ http://blog.africabespoke.com/okavango-delta-part-2/ Okavango Delta
  5. ^ http://blog.africabespoke.com/okavango-delta-part-2/
  6. ^ Bradley, John H. (tháng 10 năm 2009). “Gliding in a Mokoro Through the Okavango Delta, Botswana”. Cape Town to Cairo Website. CapeTowntoCairo.com. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2009. 
  7. ^ C. Michael Hogan. 2009
  8. ^ http://www.orc.ub.bw/downloads/FS3_fish.pdf
  9. ^ Namibia: Power plans face wall of objections
  10. ^ threats

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 19°15′N 22°45′Đ / 19,25°N 22,75°Đ / -19.250; 22.750