Độc quyền (kinh tế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Độc quyền)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Độc quyền, trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi. Tiếng Anh: monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp monos (nghĩa là một) và polein (nghĩa là bán). Đây là một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh. Mực dù trên thực tế hầu như không thể tìm được trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độc quyền và do đó độc quyền thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng những dạng độc quyền không thuần túy đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xã hội. Độc quyền được phân loại theo nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền, nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độc quyền...

Mục lục

[sửa] Độc quyền thường

[sửa] Nguyên nhân chính dẫn đến độc quyền thường

  • Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó: chính quyền địa phương có thể nhượng quyền khai thác rác thải cho một công ty nào đó hay nhà nước tạo ra cơ chế độc quyền nhà nước cho một công ty như trường hợp chính phủ Anh trao độc quyền buôn bán với Ấn độ cho Công ty Đông Ấn.
  • Nếu chi phí vận chuyển quá cao, thị trường có thể bị giới hạn trong một khu vực địa lý nào đó và nếu trong khu vực đó có một doanh nghiệp cung cấp sản phẩm thì sẽ dẫn đến tình trạng gần như độc quyền.
  • Chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ: một mặt chế độ này khuyến khích những phát minh, sáng chế nhưng mặt khác nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được vị trí độc quyền trong thời hạn được giữ bản quyền theo quy định của luật pháp.
  • Do sở hữu được một nguồn lực rất khan hiếm: điều này giúp cho người nắm giữ có vị trí gần như độc quyền trên thị trường. Một ví dụ điển hình là Nam Phi được sở hữu những mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng của thế giới và do đó quốc gia này có vị trí gần như độc quyền trên thị trường kim cương.

[sửa] Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền thường gây ra

Do tối đa hóa lợi nhuận nên doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất hàng hóa ở mức sản lượng mà tại đó chi phí biên bằng với doanh thu biên thay vì sản xuất ở mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm bằng chi phí biên như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo (cân bằng cung cầu). Khác với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà giá bán sản phẩm không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm do một doanh nghiệp sản xuất ra, trong tình trạng độc quyền giá bán sẽ giảm xuống khi doanh nghiệp độc quyền tăng sản lượng. Vì thế doanh thu biên sẽ nhỏ hơn giá bán sản phẩm và cứ một đơn vị sản phẩm sản xuất thêm doanh nghiệp độc quyền sẽ thu thêm được một khoản tiền nhỏ hơn giá bán sản phẩm đó. Điều này có nghĩa là nếu cứ sản xuất thêm sản phẩm thì doanh thu thu thêm được không đủ bù đắp tổn thất do giá bán của tất cả sản phẩm giảm xuống. Mặt khác, nếu áp dụng nguyên tắc biên của tính hiệu quả nghĩa là sản xuất sẽ đạt hiệu quả khi lợi ích biên bằng chi phí biên, tất nhiên lợi ích biênchi phí biên ở đây xét trên góc độ xã hội chứ không phải đối với doanh nghiệp độc quyền ta thấy rằng: ở mức sản lượng mà doanh nghiệp độc quyền sản xuất thì lợi ích biên (chính là đường cầu) lớn hơn chi phí biên đồng nghĩa với tình trạng không hiệu quả. Tóm lại, doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất ở sản lượng thấp hơn và bán với giá cao hơn so với thị trường cạnh tranh. Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do sản lượng giảm sút trừ đi tổng chi phí biên để sản xuất ra phần sản lượng đáng lẽ nên được sản xuất ra thêm đó chính là tổn thất do độc quyền.

[sửa] Một số biện pháp can thiệp của chính phủ

  • Thi hành các chính sách chống độc quyền: chính phủ ban hành các đạo luật nhằm ngăn ngừa một số hành vi dẫn đến độc quyền như các doanh nghiệp cấu kết với nhau để nâng giá bán sản phẩm hay hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định. Các nước có thị trường phát triển thường dùng biện pháp này để điều tiết những doanh nghiệp lớn, chiếm thị phần rất cao trong khoảng thời gian dài. Phán quyết của tòa án Mỹ năm 1911 buộc nhóm công ty Standard Oil phải tách ra thành 34 công ty độc lập là ví dụ điển hình.
  • Khuyến khích cạnh tranh: chính phủ thi hành các chính sách khuyến khích cạnh tranh bằng cách phá bỏ những rào cản để các doanh nghiệp mới dễ xâm nhập thị trường hơn hoặc khuyến khích sự hình thành của các doanh nghiệp mới.
  • Điều tiết việc định giá của các doanh nghiệp độc quyền: trái với các điều luật chống độc quyền trong đó quy định các hành vi doanh nghiệp không được làm, chính phủ có thể đề ra các quy định cưỡng chế doanh nghiệp phải định giá như thế nào. Đây là biện pháp phổ biến để kiểm soát các công ty thuộc sở hữu nhà nước.
  • Kiểm soát giá cả đối với doanh nghiệp độc quyền: chính phủ quy định giá trần để doanh nghiệp độc quyền bán sản phẩm ở mức giá của thị trường cạnh tranh nhằm đạt mức sản lượng hiệu quả. Tuy nhiên biện pháp này có một khó khăn cơ bản là chính phủ rất khó xác định mức giá của thị trường cạnh tranh và do vậy có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa khi mức giá trần quá bất hợp lý. Điều này đã xảy ra ở Mỹ những năm 1970 khi chính phủ cố gắng kiểm soát giá của thịt bò và xăng dầu.
  • Đánh thuế: việc sử dụng chính sách thuế có thể làm giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch của doanh nghiệp độc quyền, phân phối lại của cải xã hội. Thế nhưng trong thị trường độc quyền gánh nặng thuế nói chung sẽ dồn vào người tiêu dùng nhiều hơn và vì thế cần phải được áp dụng một cách hết sức thận trọng.

[sửa] Độc quyền tự nhiên

[sửa] Nguyên nhân dẫn đến độc quyền tự nhiên

Một số ngành sản xuất có đặc điểm là những yếu tố hàm chứa trong quá trình sản xuất cho phép đạt được thu nhập tăng theo quy mô hay nói cách khác chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm nếu quy mô tăng. Khi đó một doanh nghiệp lớn cung cấp sản phẩm là cách sản xuất có hiệu quả nhất. Điều này có thể thấy ở các ngành dịch vụ công cộng như sản xuất và phân phối điện năng, cung cấp nước sạch, đường sắt, điện thoại... Lấy ví dụ như ngành cung cấp nước sạch: sẽ là có hiệu quả hơn nếu chỉ một doanh nghiệp cung cấp nước sạch cho một vùng thay vì có hai doanh nghiệp cung cấp với hai hệ thống đường ống dẫn nước đến từng nhà.

[sửa] Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền tự nhiên gây ra

Do chi phí sản suất ra một đơn vị sản phẩm giản dần theo quy mô nên chi phí biên của doanh nghiệp độc quyền tự nhiên có xu hướng giảm và luôn thấp hơn chi phí sản xuất trung bình. Cũng do tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ cung ứng sản phẩm sao cho doanh thu biên bằng chi phí biên. Tại trạng thái đó sản lượng sẽ thấp hơn và giá cao hơn so với trạng thái cân bằng của thị trường cạnh tranh khi mà giá bán hay lợi ích biên bằng chi phí biên. Sự giảm sút sản lượng cũng gây ra tổn thất do độc quyền giống như độc quyền thường. Tuy nhiên nếu như trong trường hợp độc quyền thường, khi bị điều tiết để sản xuất ở mức sản xuất hiệu quả, doanh nghiệp độc quyền vẫn có lợi nhuận (tuy đã bị giảm xuống) thì trong trường hợp độc quyền tự nhiên, nếu sản xuất ở mức sản lượng hiệu quả, doanh nghiệp độc quyền luôn bị lỗ vì giá bán sản phẩm (bằng chi phí biên) thấp hơn chi phí trung bình.

[sửa] Một số biện pháp can thiệp của chính phủ

  • Định giá bằng chi phí trung bình: chính phủ quy định cho doanh nghiệp độc quyền định giá bằng đúng chi phí trung bình đã phân bổ hoàn toàn trên mỗi đơn vị sản phẩm (lấy toán bộ chi phí cố định và biến đổi chia cho tất cả sản phẩm). Cách này xóa bỏ hoàn toàn được lợi nhuận siêu ngạch của doanh nghiệp độc quyền và giảm được đáng kể tổn thất do độc quyền nhưng không loại trừ hoàn toàn được nó vì vẫn chưa đạt được mức sản lượng hiệu quả.
  • Định giá bằng chi phí biên và bù đắp bằng thuế: chính phủ quy định cho doanh nghiệp độc quyền định giá bằng chi phí biên để đạt mức sản lượng hiệu quả rồi bù đắp lỗ (do chi phí biên thấp hơn chi phí bình quân) cho doanh nghiệp bằng một khoản thuế. Biện pháp này hoặc sẽ gây méo mó về giá cả nếu sử dụng loại thuế không phải thuế khoán hoặc sẽ làm người đóng thuế thắc mắc nếu áp dụng thuế khoán.
  • Định giá hai phần: doanh nghiệp độc quyền sẽ định giá gồm hai phần: phần thứ nhất là phí cố định để được quyền sử dụng sản phẩm , dịch vụ (ví dụ: tiền thuê bao điện thoại), mức phí này bằng chênh lệch giữa chi phí trung bình và chi phí biên; phần thứ hai tính theo mỗi đơn vị sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng tiêu thụ, mức phí này đúng bằng chi phí biên. Tuy nhiên vấn đề của biện pháp này là khoản phí để được quyền sử dụng dịch vụ sẽ làm người tiêu dùng suy tính và do đó làm cho mức tiêu dùng thực tế đạt thấp hơn mức hiệu quả.

[sửa] Độc quyền bán và độc quyền mua

Khái niệm độc quyền thường dùng để chỉ độc quyền bán nhưng tương tự như độc quyền bán cũng có độc quyền mua - một trạng thái thị trường mà ở đó chỉ tồn tại một người mua trong khi có nhiều người bán. Khác với độc quyền bán, trong trường hợp độc quyền mua, doanh nghiệp độc quyền sẽ gây sức ép để làm giảm giá mua sản phẩm từ những người bán. Doanh nghiệp độc quyền bán có thể đồng thời là độc quyền mua và trong trường hợp này lợi nhuận siêu ngạch của nó rất lớn vì bán sản phẩm với giá cao hơn và mua yếu tố đầu vào thấp hơn mức cân bằng của thị trường cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền bán có điều kiện thuận lợi để trở thành độc quyền mua vì nó sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi và do đó một vài yếu tố đầu vào của nó có thể là duy nhất, kể cả trong trường hợp yếu tố đầu vào không duy nhất thì doanh nghiệp độc quyền bán cũng có khả năng chi phối mạnh giá các yếu tố đầu vào nếu nó có quy mô lớn.

[sửa] Tham khảo

  • Economics of the Public Sector, Joseph E. Stiglitz.
  • Kinh tế và tài chính công dành cho chương trình sau đại học về kinh tế theo phương thức từ xa.

[sửa] Xem thêm

Công cụ cá nhân