Acacia pycnantha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Acacia pycnantha
Acacia pycnantha Golden Wattle.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Fabales
Họ (familia) Fabaceae
Chi (genus) Acacia
Loài (species) A. pycnantha
Danh pháp hai phần
Acacia pycnantha
Benth., 1842

Acacia pycnantha hay còn gọi là cây keo vàng là một loài thực vật thuộc họ Đậu, phân họ Trinh nữ, chi Keo. Cây cao 8 m (25 ft) và có cuống lá dẹt thay vì lá thật. Cuống lá hình lưỡi liềm, dài từ 9 đến 15 cm (3,5–9 in), và rộng 1 đến 3,5 cm (0,5 -1,5 in). Hoa vàng, thơm, phát triển nhiều vào cuối đông và mùa xuân. Câu thụ phấn chéo nhờ một số loài chim thuộc họ Ăn mật và chi Acanthiza. Những loài chim này hút mật, rồi cọ phải những bông hoa khác, mang phấn hoa đi theo. Loài này phân bố ở đông nam nước Úc từ bán đảo Eyre phía Nam của Nam Úc vào phía tây tiểu bang Victoria và phía Bắc vào nội địa khu vực phía nam New South WalesLãnh thổ Thủ đô Úc. Cây được tìm thấy trong các tầng dưới của rừng bạch đàn mở trên đất khô, nông. cây được trồng ở khu vực trong tất cả các tiểu bang phía nam của Úc cũng như Nam PhiCalifornia.

Năm 1842, Thomas Mitchell phát hiện ra loài khi thu thập các loại mẫu vật, còn George Bentham đã mô tả loài. Vỏ cây Acacia pycnantha tạo ra chất tannin nhiều hơn bất cứ loài cây keo khác, dẫn đến việc khai thác thương mại sản xuất hợp chất này. Nó đã được trồng rộng rãi làm cây cảnh và sản xuất hoa, nhưng nó lại là cây dại ở Nam Phi, Tanzania, Ý, Bồ Đào Nha, Sardinia, Ấn Độ, Indonesia, New Zealand, cũng như Miền đông nước Úc, Tasmania và New South Wales. Acacia pycnantha đã được thực hiện quốc hoa chính thức của Úc vào năm 1988, và đã là biểu tượng in trên tem bưu chính của Úc.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt giống cây Acacia pycnantha to 2 mm.
Chùm hoa chụp ở vườn bách thảo Geelong.

Loài Acacia pycnantha thường mọc thành cây nhỏ, cao từ 3 đến 8 m (10 – 25 ft), mặc dù theo báo cáo ở Morocco, loài cây có thể cao lên đến 12 m (40 ft). Vỏ cây thường có màu nâu đậm hoặc xám mịn lúc còn bé và nhăn lại và sần sùi khi đã già. Cành không có hoa hoặc phủ hoa trắng. Các cây trưởng thành không có lá thật nhưng có cuống lá dẹt từ từ các cành, có màu xanh lá cây sáng hoặc tối. Cuống lá hình lưỡi liềm, dài từ 9 đến 15 cm (3,5 – 9 in), và rộng từ 1 đến 3,5 cm (0,5 - 1,5 in). Khi trưởng thành cuống mới sạm màu đồng thiếc. Quan sát thực địa tại công viên bảo tồn Hale cho thấy phần lớn cây trưởng thành vào mùa xuân và mùa hè (ở Úc) từ tháng 10 đến tháng 1.

Chồi hoa ở quanh năm trên những cây trưởng thành mới, nhưng chỉ bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5. Hoa nở từ tháng 7 đến tháng 9 (từ cuối mùa đông đến đầu mùa hè) đó là vì các chồi sau này phát triển nhanh hơn đỉnh điểm là tháng 7 và tháng 8. Những chùm hoa vàng tươi mọc thành nhóm từ 40 đến 80 bông, chùm dài 2,5 – 9 cm (1 - 3,5 in) phát sinh từ kẽ chồi. Mỗi bông hoa cấu trúc giống như quả bóng, được bao phủ bởi 40 đến 100 bông hoa nhỏ hơn có năm cánh và nhị hoa dài, khiến đầu hoa có lông mỏng.

Sau khi quá trình ra hoa kết thúc, vỏ túi hạt hình hơi bẹt, thẳng hoặc cong, dài 5 – 14 cm (2 - 5,5 in), rộng 5–8 mm. Lúc cây bé, vỏ túi hạt màu xanh lá cây, khi trưởng thành có màu nâu sẫm và hơi khít lại giữa các hạt, thành một dòng. Các hạt thuôn dài có độ dài 5,5 – 6 mm, màu đen bóng, áo hạt có hình chùy, xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1, khi vỏ túi đã chín.

Mọt số loài tương tự là cây keo mại châu (Acacia obliquinervia), cây keo vàng ven bờ biển (Acacia leiophylla) và cây keo vàng dạng vòng hoa (Acacia saligna). Acacia obliquinervia có cuống lá màu xám xanh, ít hoa, và vỏ hạt rộng hơn (1,25-2,5 cm (1/2–1 in)). Acacia leiophylla có cuống lá nhạt màu. Acacia saligna có cuống lá dài, hẹp hơn.

Quá trình phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thực vật học George Bentham mô tả chính thức Acacia pycnantha lần đầu tiên trên Tạp chí Thực vật học London năm 1842. Nhà thám hiểm Thomas Mitchell thu thập các loại mẫu vật ở phía bắc bang Victoria giữa thị trấn Pyramid Hill và sông Loddon. George Bentham nghĩ đây là loài liên quan đến Acacia leiophylla, mà ông mô tả ở bài báo tương tự. Tính ngữ pycnantha có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "pyknos" (dày đặc) và "anthos" (hoa), ám chỉ đến các cụm dày đặc của loài hoa, tạo nên cụm hoa hình cầu. Nhà thực vật học Queensland Les Pedley phân loại lại loài như Racosperma pycnanthum vào năm 2003, khi ông đề xuất đặt gần hết các chi cây ở Úc vào chi mới có tên là Racosperma. Tuy nhiên, tên này được coi là đồng nghĩa với tên gốc.

Johann Georg Christian Lehmann mô tả Acacia petiolaris vào năm 1851 từ một cây trồng tại Vườn thực vật Hamburg từ hạt giống được cho là từ Thuộc địa sông Swan (Perth). Năm 1855, Carl Meissner mô tả Acacia falcinella lấy từ Port Lincoln. Năm 1864, Bentham phân loại cả hai loài là Acacia pycnantha như trong cuốn sách Flora australiensis của mình, mặc dù ông đã phân loại 1 phân loài của angustifolia dựa trên các dữ liệu từ Vịnh Spencer, với cuống lá dẹt hơn và ít chùm hoa. Tuy nhiên, không có phân loài được công nhận hiện nay.

Năm 1921, Joseph Maiden mô tả Acacia westonii mọc từ sườn phía bắc và phía tây núi Jerrabomberra gần QueanbeyanNew South Wales. Ông thấy nó giống tương tự, nhưng thực chất là khác A. pycnantha, do đó ông không phân ra loài khác. Đồng nghiệp của ông là Richard Hind Cambage đã trồng và nghiên cứu cây giống và phát hiện ra cây có thân dài hơn nhiều so với A. pycnantha, và cuống lá xuất hiện ba nhị chứ không phải là một như các loài khác. Nó được xem là đồng nghĩa của A. pycnantha.

Tên thường được đặt là cây keo vàng, cây keo xanh, cây keo đen và cây keo lá rộng. Thổ dân vùng Ebenezer Misson ở ngoại ô Wergaia phía tây bắc Victoria goại chúng là cây phù thủy.

Phép lai của loài được biết đến trong tự nhiên và trồng trọt. Trong khu rừng Whipstick gần Bendigo ở Victoria, lai giả định với cây keo Whirrakee (Acacia williamsonii) đã xác định; tương tự với cây keo hakea (Acacia hakeoides). Phép lai với cây keo bạc Queensland (Keo lá tròn) mọc lên ở châu Âu đã được dặt tên là Acacia x siebertianaAcacia x deneufvillei.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Mụn cây trên Acacia pycnantha.

Cây keo vàng được tìm thấy ở vùng đông nam nước Úc từ phía nam của bán đảo Eyre đến dãy núi Flinders, khắp tiểu bang Victoria và phía Bắc vào nội địa phía Nam của New South Wales và Lãnh thổ Thủ đô Úc. Cây được tìm thấy trong các tầng dưới của rừng bạch đàn mở trên đất khô, nông.

Loài cây đã trở nên vượt quá phạm vi phân bố ban đầu ở Úc. Tại bang New South Wales, nó mọc nhiều ở thành phố Sydney và các vùng Duyên hải miền Trung của bang. Tại bang Tasmania, nó đã lan rộng ở phía đông của bang và trở thành cỏ dại trong bụi rậm gần thủ phủ Hobart. Tại Tây Úc, nó được tìm thấy trong dãy Darling và phía tây vành đai wheatbelt cũng như ở thi trấn Esperance và Kalgoorlie.

Ngoài nước Úc, cây còn xuất hiện ở Nam Phi, Tanzania, Ý, Bồ Đào Nha, Sardinia, Ấn Độ, IndonesiaNew Zealand. Nó hiện diện ở California, nhưng không được xem xét để được tính là phân bố ở đó. Ở Nam Phi, nó đã được trồng từ năm 1858 và 1865 để ổn định cồn cát và sản xuất chất tannin, nhưng đã lan ra theo đường nước vào rừng, núi và đồng bằng fynbos, và các khu vực biên giới giữa fynbos và karoo. Các túi mật của hoa đã hình thành loài ong bắp cày Trichilogaster signiventris' đã được tìm thấy ở Nam Phi, đã giúp cân bằng hệ sinh thái và đã làm giảm khả năng sinh sản của cây trong suốt phạm vi của chúng. Ong trưởng thành đẻ trứng vào đầu nụ hoa trong mùa hè, nở tháng năm và tháng sáu. Ấu trùng gây ra sự hình thành của các mụn cây và ngăn chặn sự phát triển hoa. Cành cây có thể bị gãy dưới sức nặng của các mun cây. Ngoài ra, loài mọt hạt keo Melanterius compactus xuất hiện năm 2001 cũng góp phần cân bằng hệ sinh thái.

Hệ sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Acacia pycnantha seedling growing in the Willans Hill Reserve.jpg

Mặc dù các loài cây thường bị chết do cháy, nhưng loài cây này trưởng thành có thể phát triển thành bụi chống cháy. Hạt giống có thể tồn tại trong đất trong hơn 5 năm, nảy mầm kể cả khi bị cháy.

Giống như keo khác, Acacia pycnantha hấp thụ nitơ từ không khí. Đây là nơi vi khuẩn rhizobia hình thành nốt sần rễ, nơi làm cho nitơ ở dạng hữu cơ và do đó giúp cây mọc trên đất bạc màu. Một cuộc nghiên cứu thực địa trên khắp nước Úc và Nam Phi nhận thấy rằng các vi sinh vật rất đa dạng về mặt di truyền, thuộc chủng khác nhau của các loài Bradyrhizobium japonicum và chi Burkholderia ở cả hai nước. Hiện chưa rõ liệu các vách vàng đã được kèm theo các vi khuẩn này sang lục địa châu Phi hay gặp quần thể mới có.

Một con ruồi đang đậu trên cuống lá

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Acacia-pycnantha-bark-tons.gif
nhựa cây

Gieo trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cành đầy hoa

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

· Danh sách các thực vật in trên tem của Australia.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]