Adachi Mitsuru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Adachi. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Adachi Mitsuru
Tên khai sinh 安達 充
Sinh 9 tháng 2, 1951 (63 tuổi)
Isesaki, Gunma Prefecture
Quốc tịch Nhật Bản Nhật Bản
Tác phẩm Touch
H2
Katsu!
Cross Game
Giải thưởng Shogakukan Manga Award (1983, 2009)

Adachi Mitsuru (安達 充 Adachi Mitsuru?, An Đạt Sung) là một mangaka sinh ngày 9 tháng 2, 1951Isesaki, Gunma, Nhật Bản[1]. Sau khi tốt nghiệp trường Trung học Thương mại Maebashi tỉnh Gunma, Adachi đã sáng tác manga đầu tay vào năm 1970 với Kieta Bakuon, dựa trên một cuốn manga khác do Ozawa Satoru sáng tác. Kieta được in trong tạp chí Manga Deluxe Shōnen Sunday do Shogakukan xuất bản.

Vào năm 1978, ông đã phá bỏ phong cách cũ và tiến bộ hơn với manga "Nine". Cũng chính nhờ phong cách mới mẻ này, Adachi đã trở nên nổi tiếng. Ngoài ra, ông cũng là 1 trong số "những tác giả có số sách bán ra hơn 200 triệu bản in".

Sau khi tốt nghiệp trường trung học Kinh tế (hay thương mại) của tỉnh Maebashi, Adachi bắt đầu sự nghiệp tác giả truyện tranh bằng việc đồng sáng tác với Kieta Bakuon, phong cách của ông khá nhiều phần là theo Ozawa Satoru. Kieta là một tác giả khá nổi tiếng ở tờ Shounen Sunday (một tờ tạp chí về manga của nhà xuất bản Shogakukan).

Adchi được biết đến nhiều qua thể loại truyện về tình cảm, hài hước, và thể thao (đặc biệt là về bóng chày) những tác phẩm như Touch - H2Slow stepMiyuki. Ông được miêu tả là một cây bút của những "đoạn hội thoại thú vị", một thiên tài phác họa cuộc sống hàng ngày, "là người kể những câu chuyện chân thật xuất sắc nhất" và là "một mangaka hàng đầu". Ông cũng là một trong số ít những tác giả truyện tranh sáng tác cho các tạp chí Shounen, ShoujouSeinen, và hơn cả là ông thành công ở cả 3 thể loại đó. Những tờ báo mà ông đã cộng tác: Shounen Sunday, Ciao, Shoujou ComicPetit Comic, hầu hết truyện của Adachi đều được xuất bản bởi ShogakukanGakken. Đáng tiếc là chỉ có 2 bộ truyện ngắn Short Program 1 và 2 là được xuất bản ở Bắc Mỹ bởi Viz Media. Tuy nhiên, Viz đang dự kiến sẽ bắt đầu xuất bản bộ Cross Game vào tháng 10, 2010.

Ông thường dùng Mitsuru Adachi hơn là dùng Adachi Mitsuru giống như người anh của ông Adachi Tsutomu. Và đó cũng là ý tưởng để Adachi sang tác ra bộ truyện Touch, ông dùng những chuyện trong quãng thời gian sống cùng người anh của mình để dùng làm tư liệu viết bài. Ngoài ra, có người nói rằng sự miêu tả chính xác sự thù địch giữa hai anh em trong Touch có lẽ từ kinh nghiệm của Adachi khi lớn lên cùng với người anh của mình. Adachi đã thiết kế nhân vật cho loạt OVA anime Nozomi Witches, do đó ông đôi khi bị lần tưởng là người tạo ra tác phẩm này.
Năm 1980 NineTouch là 2 bộ truyện làm nên tên tuổi lẫy lừng của Adachi, không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở những nước trong Châu Á.
Ông lấy vợ năm 1985 (không thấy thông tin gì về vợ ông). Ông còn có cả một đội bóng chày riêng cho mình, có tên là Vitamin A.

Tiểu sử sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1969, Adachi bắt đầu vẽ cho tạp chí COM. Năm 1969, ông theo chân anh trai đến Tokyo để bắt đầu làm công việc phụ tá cho mangaka Isami Ishii[1] Một năm sau, ông có tác phẩm đầu tay Kieta Bakuon. Adachi tiếp tục xuất bản những truyện ngắn khác nhau và những series ngắn trong suốt những năm 1970 dựa trên tác phẩm của những người đi trước mà nổi tiếng nhất là bộ truyện vẽ lại Rainbowman từ 1972-1973. Năm 1978, ông ra mắt tác phẩm đầu tiên của mình, Nine, trên Weekly Shōnen Sunday. Ông còn xuất bản 2 bộ khác là Hiatari Ryōkō! từ 1979-1981 trên Weekly Shōjo Comic, và Miyuki từ 1980-1984 trên Shōnen Big Comic.

Adachi trở thành một cái tên quen thuộc khi bộ Touch phát hành từ 1981-1986 trên Weekly Shōnen Sunday. Năm 1982, Hiatari Ryōkō! được sản xuất thành phim trên kênh truyền hình Nhật Bản. Năm tiếp theo, 1983, là một năm trọng đại với Adachi. Ông nhận Giải thưởng Shogakukan Manga Award lần thứ 28 cho thể loại shōnen/shōjo manga với hai bộ TouchMiyuki.[2] Tác phẩm Miyuki đã được sản xuất thành anime và phim truyền hình, còn Nine được dựng thành 3 phim, trong đó có một phim được sản xuất ngay sau đó,năm 1984.

Touch được chế tác thành anime năm 1985, công chiếu 2 năm trên Fuji TV. Shōjo manga lãng mạn Slow Step in trên Ciao từ 1986 to 1991, và bộ truyện hài hước lãng mạn khác là Rough xuất hiện trên Weekly Shōnen Sunday từ 1987 to 1989. Sau đó Adachi ra mắt Niji Iro Tōgarashi, bộ manga lịch sử cổ tranh hài hước và lãng mạn, từ 1990-1992 trên Weekly Shōnen Sunday.

Jinbē, bộ truyện về mối quan hệ giữa cha dượng và con gái riêng của vợ, được ấn bản trên Big Comic Original từ 1992-1997. Bộ manga dài nhất của Adachi, H2 được đăng trên Weekly Shōnen Sunday từ 1992-1999 và có tổng cộng 34 tập. Bộ manga này được dựng thành anime và công chiếu trên TV Asahi từ 1995-1996.

Từ 2000-2001, Adachi xuất bản bộ truyện hài lãng mạn giả tưởng trên Weekly Shōnen Sunday tên Itsumo Misora. Bộ tiếp theo dài hơn nói về boxing, Katsu!, xuất bản từ 2001-2005 trên Weekly Shōnen Sunday. Năm 2005, H2 được dựng thành phim và chiếu trên Kênh TBS ở Nhật, và Touch được dựng thành phim điện ảnh bởi Toho. Ông cũng bắt đầu bộ Cross Game trên Weekly Shōnen Sunday. Năm sau, Rough cũng được hãng Toho dựng thành phim điện ảnh.

Nhân dịp tổng số lượng ấn bản bán ra của Adachi đạt 200 triệu bản, Weekly Shōnen Sunday đã dành ấn bản số 26, năm 2008 để vinh danh Adachi và các tác phẩm của ông. Năm 2009, Adachi giành giải thưởng Thường niên Shogakukan Manga Award cho bộ Cross Game,[3], bộ truyện này đã được dựng thành anime và bắt đầu công chiếu trên TV Tokyo vào tháng 4, 2009.

Adachi đã bắt đầu series mới, Q and A, trên tờ Monthly Shōnen Sunday vào tháng 6, 2009.

Các tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thứ tự thời gian

Một số thông tin về tác phẩm của Mitsuru Adachi[sửa | sửa mã nguồn]

Touch là tác phẩm đưa Adachi lên hàng tác giả truyện tranh được yêu thích nhất ở nhật, đến mức có một câu nói phổ biến "nếu một giáo viên trung học không biết Adachi là ai, người đó đừng làm giáo viên nữa thì hơn"

Rất khó để có thể cắt nghĩa 1 cách rõ ràng về manga của Mitsuru Adachi là shoujo hay sports. Trong manga của ông, câu chuyện luôn được đặt trong môi trường trường học, nhưng diễn biến thì lại nói chủ yếu về thể thao.(Touch, Hyatari Ryoko, H2: nói về baseball; Rough nói về bơi lội; Katsu nói về boxing), và những câu chuyện tình cảm, những rung động đầu đời của những cô cậu học sinh cấp 3 (Touch, Miyuki, Slow step).

Adachi có 1 đội bóng chày của riêng mình, đội bóng này tên là Vitamin A, có lẽ chính vì thế nên rất nhiều manga của ông có nội dung xoay quanh chủ đề bóng chày. Một trong số những địa danh thường hay xuất hiện trong các manga cua ông là "koushien" (ông còn có 1 manga mang tên " Ah! Youthful koushien"). Koushien là sân vận động hằng năm diễn ra vòng chung kết giữa các đội bóng chày xuất sắc nhất của các trường trung học.

Nhiều manga của Mitsuru Adachi sau đó được sản xuất cho TV & home video market.Series đầu tiên xuất hiện trên TV là Miyuki vào năm 1983 với 37 tập.Touch cũng được chiếu năm 85 với 101 tập trong vòng 3năm. Hyatari ryoko chiếu từ năm 1987--->1988 với 48 tập.

Nine và sau đó là Nine II được sản xuất riêng cho home video marker từ năm 1983. Tháng 9 năm đó, Nine the movie được chiếu sau Nine Special và Nine II. Năm 1984 thì có Nine Kankatsuhen: Yattekimashita koushien (Nine last chapter: here we are, basseball stadium koushien. Slow step xuất hiện muộn hơn với 1 series 5 OAVs. Touch cũng có 3 movie (summaries of the TV series for home video)

Trong manga của Adachi thường xuất hiện một con chó mập và đều được đặt tên là punch.

Đánh giá về Mitsuru Adachi[sửa | sửa mã nguồn]

Mitsuru Adachi là một Mangaka có phong cách rất đặc sắc, không thể lẫn với bất kỳ ai. Nét vẽ của Adachi tuy không chi tiết nhưng ông luôn biết phải vẽ sao cho đạt hiệu quả. Tranh của Adachi tuy đơn giản nhưng vẫn đẹp, vẫn thu hút người đọc và đặc biệt là đặc tả được nội tâm nhân vật. Thêm một lý do khiến Adachi rất được ủng hộ là truyện của ông không có cảnh bạo lực, chém giết bao giờ.

Về cốt truyện, Adachi là tác giả đặc biệt quan tâm khai thác chủ đề huyết thống và thể thao. Nhân vật chính bao giờ cũng phải tự mình chiến đấu, làm việc để có được thành công và khẳng định chính mình. Chính nhờ thế mà truyện của Adachi luôn luôn có ý nghĩa rất sâu sắc nhưng không kém phần vui nhộn, hài hước.

Tác phẩm của Adachi được chia nhỏ thành nhiều chương ngắn nhưng luôn có liên hệ với nhau và không bao giờ có sự trùng lặp như một số Manga khác thường có. Adachi cũng được coi là hiện tượng trong làng truyện trào phúng. Tác phẩm của Adachi luôn đem đến nụ cười nhẹ nhàng nhưng khiến người ta phải suy nghĩ.

Adachi có khả năng miêu tả tâm lý rất xuất sắc. Ông không dùng nhiều lời nói hay tranh vẽ mà chỉ sử dụng những hành động rất đơn giản để thể hiện tâm lý và tính cách của từng nhân vật. Đó chính là nét đặc sắc nhất trong tác phẩm của Adachi.

Về tư tưởng, Adachi là tác giả luôn ca ngợi tuổi trẻ đầy nhiệt huyết. Ông cũng không bỏ qua chủ đề tình bạn, tình yêu và ý chí. Có thể nói rằng Adachi là một Mangaka chuyên viết cho lứa tuổi học trò. Chính vì thế mà người ta nói: "Bất kì giáo viên trung học nào không biết đến tên tuổi của Mitsuru Adachi thì không phải là giáo viên trung học".

Kỉ niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 427 tháng 8 năm 2001, hai cuộc triển lãm nghệ thuật lớn lần lượt được tổ chức tại Bảo tàng Odakyu - Shinjuku, TokyoBảo tàng nghệ thuật Kyoto để kỉ niệm 30 năm ngày Adachi bắt đầu sự nghiệp sáng tác cũng như để triển lãm những tác phẩm của ông. Cũng trong dịp này đã vẽ một bức tranh với cảnh Minami, Kazuya, Tatsuya và Lum để tặng Adachi. Nguồn:[4][5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Adachi Mitsuru tại Từ điển Bách khoa của Anime News Network. Truy cập 15 tháng 7 năm 2007.
  2. ^ “小学館漫画賞:歴代受賞者” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2009. 
  3. ^ “54th Shogakukan Manga Award Winners Announced”. Anime News Network. 21 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ “あだち充作品年表” (bằng tiếng Nhật). あだち充 Database. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2007. 
  5. ^ “あだち充 プロフィール、作品リスト” (bằng tiếng Nhật). こみっくらぼ. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2007. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]