Bọ lá Gray

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bọ lá Gray
Wandelndes Blatt Phyllium bioculatum 051031a.jpg
A female Phyllium bioculatum
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Lớp (class) Insecta
Bộ (ordo) Phasmatodea
Họ (familia) Phylliidae
Chi (genus) Phyllium
Loài (species) P. bioculatum
Danh pháp hai phần
Phyllium bioculatum
G. R. Gray, 1832
Danh pháp đồng nghĩa [1][2][3][4]
  • Phyllium agathyrsus G. R. Gray, 1843
  • Phyllium crurifolium Serville, 1838
  • Phyllium dardanus Westwood, 1859
  • Phyllium gelonus Gray, 1843
  • Phyllium magdelainei Lucas, 1857
  • Phyllium pulchrifolium Serville, 1838
  • Phyllium scythe G. R. Gray, 1843
  • Pulchriphyllium bioculatum (Gray, 1832)

Bọ lá Gray, Phyllium bioculatum, là một loài bọ lá (Phylliidae) có nguồn gốc từ phía tây Malaysia.[5] Nó lần đầu tiên được mô tả bởi George Robert Gray vào năm 1832, đó là loài phasmid đầu tiên ông phát hiện ra.[6] Bọ lá có cơ thể rất phẳng, cánh và chân không đều. Chúng thường dài khoảng 2-4 inches (5–10 cm). Tên tiếng Ba Lan là liściec dwuoki, xuất phát từ hai điểm nằm trên bụng chỉ ở loài này,[7] cũng như tên khoa học (bioculatum có nghĩa là "hai mắt").

Mô tả vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

A closer view of a male P. bioculatum with its visible wings (note also the two namesake dots)

Loài côn trùng này có màu xanh lá cây, cơ thể rộng và chân thường có đốm. Cả con đực và con cái xuất hiện trong trong sắc thái của màu xanh lá cây, vàng và màu cam.[7] Con đực dài khoảng 2,6 đến 3,7 inch (66 đến 94 mm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ].[1] Râu của những con cái rất ngắn, trong khi râu của những con đực dài hơn. Con cái trưởng thành dài là 1,8-2,7 inch (46–69 mm).L oài này cũng có cánh sau được sử dụng để bay ở con đực, nhưng không được sử dụng ở con cái. Phyllium bioculatum non dài khoảng 2 cm (0,79 in), màu đỏ đậm và có bất động phản xạ. Chúng lột xác 5-6 lần trong suốt cuộc đời.[8] Con cái có cơ thể nặng và không bay được, và đẻ khoảng 500 trứng trong suốt cuộc đời.[9] Bụng hẹp tại gốc, và đốt chân của chân phía trước giãn ra.[10]

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng là động vật ăn cỏ di chuyển chậm và dựa trên ngụy trang của chúng để phòng chống động vật ăn thịt bao gồm các loài chim, động vật lưỡng cư và bò sát.[11][12] Những con cái sống 4-7 tháng và con đực từ 3 tuần đến 1 tháng.

Môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được tìm thấy chủ yếu ở vùng nhiệt đới và khu vực rừng nhiệt đới nơi với số lượng đầy đủ của thảm thực vật. Nó phổ biến ở Đông Nam Á, tại Borneo, Trung Quốc, Ấn Độ, Java, Malaysia, SingaporeSumatra. Nó cũng được tìm thấy ở Madagascar, MauritiusSeychelles.

Nhiệt độ ưa thích đối với các loài này là 24-28 °C (75-82 °F), mà vào ban đêm có thể làm giảm nhẹ 2-3 °C (thay đổi 4-5 °F). Nhiệt độ không ảnh hưởng đến các loài mạnh nhưng sẽ làm chậm phát triển. Điều quan trọng là nhiệt độ không giảm xuống dưới 22 °C (72 °F). Độ ẩm thấp có thể gây ra căng thẳng và chết.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Javan Leaf Insect”. 
  2. ^ “Insects and Spiders”. Net Industries. 
  3. ^ “Phyllium bioculatum”. BioLib. 
  4. ^ “Phyllium bioculatum”. ITIS. Catalogue of Life:2009 Annual Checklist. 
  5. ^ “Phyllium bioculatum”. Phasmid Study Group. 
  6. ^ P. E. Bragg (2007). “Biographies of Phasmatologists– 2. George Robert Gray.”. Phasmid Studies 15 (1 & 2): 5–9. 
  7. ^ a ă â “Phyllium bioculatum”. Phyllium.yoyo.pl (bằng Originally in Polish (translated to English)). 
  8. ^ Kalasinskas, Ron. “Java Leaf Insect”. Animals of the Rainforest. 
  9. ^ Amelia Hanibeltz, Yoko Nakamura, Alison Imms, Eva Abdullah. “The survival of newly-hatched leaf insects”. Phasmid Studies 4 (2): 60–63. 
  10. ^ Edward Newman (1843). “Insects”. The zoologist: a popular miscellany of natural history, volume 1. London. tr. 122. 
  11. ^ Ch'ien C. Lee. “Stock Photograph of Phyllium bioculatum from West Java, Indonesia (cld07031002)”. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “Javanese Leaf Insect”.